vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Trọng N. Cho ly hôn giữa anh Lê Trọng N và chị Hà Hải H.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Lê Trọng N phải nộp 300.000 đồng. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh N đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0003767 ngày 27/12/2022 của Chi cục Thi Hành án dân sự huyện N, tỉnh Ninh Bình. Báo cho anh Lê Trọng N biết có quyền kháng cáo bản án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Trọng N. Cho ly hôn giữa anh Lê Trọng N và chị Hà Hải H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 13-3-2023.
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Quang Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Bùi Xuân Phúc.

2. Ông Nguyễn Văn Phiếu.

- Thư ký phiên toà: ông Bùi Quang Trung - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thu Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số 274/2022/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022, về việc: “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 2 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Trọng N, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Số nhà 11, Khu C, tổ 15, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Hiện trú tại: phòng 3501, CT4B, khu đô thị X, quận H, thành phố Hà nội.

- Bị đơn: Chị Hà Hải H, sinh năm 1980.

Nơi cư trú cuối cùng: Phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình.(Đã bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình Quyết định tuyên bố mất tích).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 12 năm 2022, bản tự khai và tại phiên tòa Nguyên đơn anh Lê Trọng N trình bày: Anh và chị Hà Hải H được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào tháng 3 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh sống hạnh phúc với nhau khoảng 06 tháng, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hiểu nhau, đến tháng 01/2011, chị H bỏ về quê ngoại ở phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình, để sinh sống. Sau đó chị H bỏ đi khỏi địa phương không rõ tung tích. Anh đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình tuyên bố chị Hà Hải H mất tích. Tại Quyết định: 03/2022/ QĐST-VDS ngày 03/11/2022, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình đã Tuyên bố chị H Hải H mất tích. Sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến nay, chị H Hải H vẫn không trở về. Vì vậy, anh có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hà Hải H, để anh ổn định cuộc sống.

Về con chung: anh Lê Trọng N xác định giữa anh và chị Hà Hải H không có con chung, không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: anh Lê Trọng N không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: anh Lê Trọng N phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Bị đơn hiện đã bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình tuyên bố là mất tích tại quyết định số: 03/2022/QĐST-VDS ngày 03/11/2022.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:

- Về thủ tục tố tụng: quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng đầy đủ các bước tố tụng và Hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và Nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn hiện đang bị tuyên bố là mất tích.

- Về việc đường lối quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ các Điều 5, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Trọng N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lê Trọng N và chị Hà Hải H.

2. Về con chung: Không có, không đề nghị Tòa án xem xét.

3. Về tài sản, công nợ chung: không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.

4. Về án phí ly hôn: Anh Lê Trọng N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình, loại việc: “Ly hôn,” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự.

. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

. Về nội dung:

.Về quan hệ hôn nhân: anh Lê Trọng N và chị Hà Hải H tự nguyện tìm hiểu, kết hôn tháng 3 năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 01/2011, chị H bỏ về quê ngoại ở phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình, để sinh sống, sau đó bỏ đi không rõ tung tích. Hiện chị Hà Hải H đã bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình tuyên bố mất tích tại quyết định số: 03/2022/ QĐST-VDS ngày 03/11/2022. Đến nay anh Lê Trọng N vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn chị Hà Hải H. Xét đề nghị của anh Lê Trọng N là có căn cứ cần chấp nhận là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 19 và khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

.Về con chung: anh Lê Trọng N xác định anh và chị Hà Hải H không có con chung, không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.

.Về tài sản chung, công nợ chung: anh Lê Trọng N không yêu cầu nên không đặt ra việc giải quyết.

.Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Lê Trọng N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các khoản 1 Điều 19; khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án.

Xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Trọng N. Cho ly hôn giữa anh Lê Trọng N và chị Hà Hải H.

2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Lê Trọng N phải nộp 300.000 đồng. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh N đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0003767 ngày 27/12/2022 của Chi cục Thi Hành án dân sự huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Báo cho anh Lê Trọng N biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án(Ngày 13/3/2023). Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ