- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Anh Trương Quang H yêu cầu xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm a, điểm c, khoản 1, Điều 37; điểm a, khoản 2, Điều 38; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 1, khoản 3, Điều 228; Điều 238; điểm a, khoản 5, Điều 477; khoản 2 Điều 479; Điều 151; khoản 3, Điều 153; Điều 154-…
- Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 22/2023/HNGĐ-ST Ngày 16/01/2023 “V/v: xác định cha cho con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Phương- Cán bộ hưu.
Bà Nguyễn Thị Bích - Cán bộ hưu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 16/01/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 46/2022/TLST-HNGĐ ngày 23/3/2022 về việc “Xác định cha cho con”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 175/2022/QĐ-ST ngày 23/12/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trương Quang H, sinh năm 1989 ( Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố Thượng, thị trấn Tân An (nay là UBND thị trấn Tân Dân), huyện TD, tỉnh BG.
- Bị đơn: Chị Lê Thị Kim H1, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tầng 3-1, số 88, đoạn 4, đường Trùng Tân, khóm 25, ngõ Quang Minh, khu Tam Trùng, thành phố TB, Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là anh Trương Quang H trình bày:
Năm 2013 anh có sang Đài Loan làm ăn và có quan hệ tình cảm với chị Lê Thị Kim H1 là người Việt Nam và đã nhập quốc tịch Đài Loan, tháng 12 năm 2014. Anh và chị HH về Việt Nam tổ chức lễ cưới và cùng chung sống với nhau nhưng chưa kịp làm đăng ký kết hôn sau đó cả 2 sang Đài Loan làm ăn, ngày 14/03/2015 chị HH sinh con tại bệnh viện thành phố TB, Đài Loan có giấy chứng sinh số 141807 cấp ngày 17/03/2015 nhưng chưa làm giấy khai sinh. Anh và chị HH thống nhất đặt họ tên con là Li Mei Hua, có đi làm hộ chiếu số xxxxxxxxx- được cấp giấy miễn thị thực về Việt nam số A0285304 ngày 16/07/2015 sau đó anh chị về Việt Nam và đưa con về ở cùng bố mẹ đẻ anh ở Thị trấn Tân An, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Anh và gia đình anh chăm sóc cháu từ đó đến nay, hiện nay cháu đang học lớp 1 trường tiểu học thị trấn Tân An, huyện Yên Dũng. Một thời gian ngắn sau đó chị HH sang Đài Loan. Vài năm đầu chị HH còn điện thoại hỏi thăm con nhưng 4 năm trở lại đây chị HH không còn liên lạc với anh nữa và cũng không hỏi thăm con cũng như không có trách nhiệm nuôi dưỡng gì với con.
Ngày 17 tháng 02 năm 2020, anh có đến Công ty cổ phần công nghệ Gen ứng dụng Việt Nam có địa chỉ: số 6,tầng 5, Đặng Xuân Bảng, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội làm thủ tục xác nhận ADN. Kết quả xét nghiệm số 200217.44 ngày 17/2/2020 đã kết luận anh và cháu Li Mei Hua có quan hệ huyết thống Cha- Con với xác suất 99,9999%. Để đảm bảo đầy đủ quyền lợi trên phương diện pháp luật cho cháu Li Mei Hua ( Họ tên Việt Nam là Trương Ngọc A) được đảm bảo các quyền lợi về học hành về y tế và sự đùm bọc của gia đình, anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết yêu cầu: Tuyên anh và cháu Li Mei Hua ( Trương Ngọc A) có quan hệ cha con ruột.
* Bị đơn chị Lê Thị Kim H1 đã được Tòa án thực hiện ủy thác tư pháp cho chị HH theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ban hành văn bản ủy thác tư pháp số 12/UTTPDS-TA5 ngày 23/3/2022 gửi Bộ Tư pháp về việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và lấy lời khai của đương sự theo quy định của pháp luật.
Tại văn số 2937/BTP-PLQT ngày 08/11/2022 của Bộ Tư pháp gửi Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thể hiện nội dung: “Bộ Tư pháp đã nhận được Văn bản số 1110061589 ngày 07/10/2022 của Bộ tư pháp lãnh thổ Đài Loan thông báo kết quả thực hiện ủy thác tư pháp theo đề nghị của Quý cơ quan tại công văn số 12/UTTPDS-TA5 ngày 23/03/2022 đối với đương sự Lê Thị Kim H1 có địa chỉ tại Đài Loan. Theo đó cơ quan có thẩm quyền lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên vào ngày 19/9/2022 bằng phương thức: gửi hồ sơ ủy thác tư pháp tại đồn công an.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, anh H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị HH vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) công bố đơn khởi kiện; bản tự khai của các đương sự trong vụ án tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự: Đối với Thẩm phán, Thư ký, HĐXX chấp hành đúng quy định của pháp luật; về phía các đương sự, nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định pháp luật; chị HH không chấp hành quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1, Điều 89 - Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào khoản 4, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 37; Điều 371; Điều 372 - Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b, khoản 1, Điều 12- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Quang H, xác định cháu Li Mei Hua (Trương Ngọc A) sinh ngày 14/03/2015 là con đẻ của anh Trương Quang H.
Về án phí, lệ phí: Anh H không phải chịu án phí sơ thẩm; phải chịu 400.000đồng chi phí ủy thác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Trương Quang H là công dân Việt Nam, cư trú tại tổ dân phố Thượng, thị trấn Tân An, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, Việt Nam. Anh H có đơn khởi kiện về việc xác nhận cha cho con. Bị đơn là chị Lê Thị Kim H1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tầng 3-1, số 88, đoạn 4, đường Trùng Tân, khóm 25, ngõ Quang Minh, khu Tam Trùng, thành phố Tân Bắc, Đài Loan. Như vậy, Tòa án xác định đây là vụ án tranh chấp “xác định cha cho con” có đương sự là người nước ngoài, đang cư trú ở nước ngoài và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 4, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm a, điểm c, khoản 1, Điều 37 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 123- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
. Về việc đương sự vắng mặt tại phiên tòa:
Tòa án đã ban hành văn bản tố tụng và gửi cho các đương sự về thời gian xét xử vụ án. Anh H có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị HH vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 và điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 1, khoản 3, Điều 228; Điều 238- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quyết định xét xử vắng mặt đối với anh H, chị HH.
. Xét yêu cầu khởi kiện của anh H về việc yêu cầu xác nhận cha cho con đối với cháu Li Mei Hua (Trương Ngọc A) sinh ngày 14/03/2015. Hội đồng xét xử thấy:
Theo lời trình bày của anh H, từ năm 2014 anh quen và phát sinh quan hệ tình cảm với chị HH là mẹ của cháu Li Mei Hua, thời điểm đó anh chị có về Việt Nam tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Sau đó cả anh và chị đều sang Đài Loan làm việc và sinh con tại bệnh viện thành phố Tân Bắc ngày 14/3/2015 có giấy chứng sinh số 141807 cấp ngày 17/03/2015 nhưng chưa làm giấy khai sinh. Anh và chị HH thống nhất đặt họ và tên con là Li Mei Hua và có đi làm hộ chiếu số xxxxxxxxx- được cấp giấy miễn thị thực về Việt Nam số A0285304 ngày 16/07/2015 sau đó anh chị đưa con về tại Thị trấn Tân An, huyện Yên Dũng ở cùng ông bà nội và anh chăm sóc cháu từ đó đến nay. Sau đó chị HH quay trở lại Đài Loan, ban đầu còn gọi điện hỏi thăm con nhưng vài năm gần đây không còn quan tâm hỏi han con nữa. Căn cứ vào kết quả xét nghiệm AND. Phiếu kết quả phân tích AND số: 200217.44 đã cho thấy anh H và cháu Li Mei Hua “có quan hệ huyết thống: cha – con” với xác xuất 99.9999%. Hiện nay anh H và gia đình anh H vẫn đang chăm sóc, giáo dục cháu Li Mei Hua. Việc anh H trình bày cháu Li Mei Hua sinh ở Đài Loan có thị thực tại Đài Loan và căn cứ vào kết quả giám định AND là phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp cho chị HH để tiến hành lấy lời khai nhưng đến nay chị HH cũng không có ý kiến gì. HĐXX nhận thấy có đủ căn cứ pháp lý để xác định: cháu Li Mei Hua (Trương Ngọc A) sinh ngày 14/03/2015 là con đẻ của anh Trương Quang H. Vì vậy căn cứ quy định tại các Điều 88; khoản 1, Điều 89; Điều 91; Điều 101; Điều 102; Điều 123
- Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Quang H về việc xác định cha cho con của anh Trương Quang H. Xác định cháu Li Mei Hua (Trương Ngọc A) sinh ngày 14/03/2015 là con của anh Trương Quang H.
Căn cứ bản án có hiệu lực pháp luật các bên có liên quan có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh lại các vấn đề về hộ tịch của cháu Li Mei Hua (Trương Ngọc A) sinh ngày 14/03/2015.
. Về án phí:
Về lệ phí sơ thẩm: Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, anh Trương Quang H không phải nộp lệ phí giải quyết vụ án.
Về án phí ủy thác tư pháp: Căn cứ quy định tại Điều 151; khoản 3, Điều 153; Điều 154- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 buộc Trương Quang H phải chịu 400.000 đồng tiền lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài nhưng được trừ vào số tiền 400.000 đồng tiền lệ phí ủy thác đã nộp tại biên lai số 0000447 ngày 01/6/2022 và biên lai số 0000827 ngày 13/01/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh H đã thi hành xong lệ phí dân sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 88; khoản 1, Điều 89; Điều 91; Điều 101; Điều 102; Điều 123
- Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm a, điểm c, khoản 1, Điều 37; điểm a, khoản 2, Điều 38; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 1, khoản 3, Điều 228; Điều 238; điểm a, khoản 5, Điều 477; khoản 2 Điều 479; Điều 151; khoản 3, Điều 153; Điều 154- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm b, khoản 1, Điều 12- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “xác định cha cho con” của anh Trương Quang H.
2. Xác định anh Trương Quang H là cha đẻ của cháu Li Mei Hua (Trương Ngọc A) sinh ngày 14/03/2015
Căn cứ bản án có hiệu lực pháp luật anh Trương Quang H và cháu Li Mei Hua (Trương Ngọc A) được đến cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh lại các vấn đề về nhân thân, hộ tịch của cháu Li Mei Hua (Trương Ngọc A) sinh ngày 14/03/2015 theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí, lệ phí:
Về án phí sơ thẩm: Anh Trương Quang H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về lệ phí ủy thác tư pháp: Căn cứ quy định tại Điều 151; khoản 3, Điều 153; Điều 154- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 buộc Trương Quang H phải chịu 400.000 đồng tiền lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài nhưng được trừ vào số tiền 400.000 đồng tiền lệ phí ủy thác đã nộp tại biên lai số 0000447 ngày 01/6/2022 và biên lai số 0000827 ngày 13/01/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh H đã thi hành xong lệ phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Chị Lê Thị Kim H1 hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Trương Quang H cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - Cổng thông tin điện tử TANDTC; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Cục THADS tỉnh Bắc Giang; - UBND thị trấn Tân Dân; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |