- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Tấn B khởi kiện không công nhận vợ chồng với bà N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn B.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 4 - 2023 V/v Không công nhận quan hệ vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đình Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải, bà Trịnh Thị Oanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lường – Là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2023 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 81/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023, giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn B, sinh năm 1974;
2. Bị đơn: Bà Đặng Thị Mỹ N, sinh năm 1976;
Cùng địa chỉ: xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
(Đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Tấn B trình bày: Ông B và bà Đặng Thị Mỹ N tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1992, nhưng không có đăng ký kết hôn. Từ năm 1992 cho đến nay ông bà đều cư trú tại Thôn Phước Thọ 1 (Nay là thôn Phước Thọ 2), xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nên thường xuyên xảy ra cãi vã và xô xát. Mặc dù hai bên đã nói chuyện, cố gắng hàn gắn tình cảm rất nhiều lần nhưng không thành. Nay ông B xác định không còn tình cảm nữa và cũng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, ông B yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận ông B và bà Đặng Thị Mỹ N là vợ chồng.
Về con chung: Có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị H, sinh ngày 08/8/1993; cháu Nguyễn Tấn T, sinh ngày 10/3/1995 và cháu Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 01/12/2000. Các con chung đã đủ 18 tuổi phát triển bình thường và tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Đặng Thị Mỹ N trình bày:
Bà N và ông Nguyễn Tấn B tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1992, nhưng không có đăng ký kết hôn. Từ năm 1992 cho đến nay bà N, ông B đều cư trú tại Thôn Phước Thọ 1 (Nay là thôn Phước Thọ 2), xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi vã. Mặc dù hai bên đã cố gắng nói chuyện, hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay ông B yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng thì bà N đồng ý.
Về con chung: Có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị H, sinh ngày 08/8/1993; cháu Nguyễn Tấn T, sinh ngày 10/3/1995 và cháu Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 01/12/2000. Các con chung đã đủ 18 tuổi phát triển bình thường và tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về tố tụng: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; việc thu thập chứng cứ, trình tự giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Áp dụng khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình 2014; điểm c mục 3 Nghị Quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội. Đề nghị HĐXX Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn B. Về hôn nhân: Tuyên không công nhận ông Nguyễn Tấn B và bà Đặng Thị Mỹ N là vợ chồng; Về con chung: Hiện các con chung đã đủ tuổi trưởng thành nên không xem xét giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là Không công nhận quan hệ vợ chồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bị đơn cư trú tại huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc.
Tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất nguyên đơn ông Nguyễn Tấn B, bị đơn bà Đặng Thị Mỹ N vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tấn B với bà Đặng Thị Mỹ N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1992, ông bà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Ông B có yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông B và bà N. Căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX cần chấp nhận yêu cầu của ông B, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Tấn B với bà Đặng Thị Mỹ N.
Về con chung: Các con chung Nguyễn Thị H, sinh ngày 08/8/1993; Nguyễn Tấn T, sinh ngày 10/3/1995 và Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 01/12/2000 đã đủ 18 tuổi phát triển bình thường và tự nuôi sống bản thân, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí: Ông Nguyễn Tấn B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 7 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình.
Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn B.
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Tấn B với bà Đặng Thị Mỹ N.
Về con chung: các con chung Nguyễn Thị H, sinh ngày 08/8/1993; Nguyễn Tấn T, sinh ngày 10/3/1995 và Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 01/12/2000 đã đủ 18 tuổi phát triển bình thường và tự nuôi sống bản thân nên các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Tấn B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0016863 ngày 06/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.
3. Thông báo quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Pắc; - Chi cục THADS huyện K; - Các đương sự; - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ Tọa phiên tòa (Đã ký) Vũ Đình Nam |