vanban.org

Bản án 22/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau Tuyên án 17/02/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị D2 và ông Lê Văn D1.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Nguyễn Thị D2 và ông Lê Văn D1 phải chịu 3.900.000 đồng, bà D2, ông D1 đã nộp tạm ứng án phí đã nộp số tiền 1.950.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010573 ngày 22/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện M, tỉnh C. chuyển thu án p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bà Đ yêu cầu bà L trả tiền hụi"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị D2 và ông Lê Văn D1.
  • Căn cứ chính? Điều 12 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 13 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 14 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
TỈNH C.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/DS-ST
Ngày 17-02-2023
V/v tranh chấp “Tiền hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH C.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Việt Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Hữu Hiệp;

2. Bà Trịnh Ngọc Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh C..

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh C. tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích Nhẫn – Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh C. xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 167/2022/TLST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2022 về việc “tranh chấp tiền hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2022/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn D1, sinh năm 1983

Bà Nguyễn Thị D2, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Ấp 6, xã K, huyện U, tỉnh C .

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1980;

Địa chỉ: Ấp 6, xã K, huyện U, tỉnh C ..

(Ông D1, bà D2 có mặt, bà L vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 27 tháng 5 năm 2022, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D2 và ông Lê Văn D1 trình bày: vợ chồng bà làm chủ hụi, bà L là hụi viên có tham gia chơi hụi cụ thể: Dây hụi mở ngày 16/6/2019 âm lịch loại hụi 2.000.000 đồng/tháng, có 29 hụi viên, bà L tham gia 01 chân và đã hốt hụi ở kỳ thứ ba, bà L đã đóng hụi chết được 19 lần còn lại 7 lần chưa đóng số tiền là 14.000.000 đồng; Dây hụi mở ngày 19/9/2019 âm lịch loại hụi 2.000.000 đồng/tháng, có 29 hụi viên, bà L tham gia 01 chân và đã hốt hụi ở kỳ thứ 6, bà L đã đóng hụi chết được 12 lần còn lại 11 lần chưa đóng số tiền là 22.000.000 đồng; Dây hụi mở ngày 19/11/2019 âm lịch loại hụi 2.000.000 đồng/tháng, có 26 hụi viên, bà L tham gia 01 chân và đã hốt hụi ở thứ nhất, bà L đã đóng hụi chết được 16 lần còn lại 9 lần chưa đóng số tiền là 18.000.000 đồng; Dây hụi mở ngày 26/12/2018 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng/tháng, có 37 hụi viên, bà L tham gia 03 chân và đã hốt hụi cả ba chân. Bà L đã đóng hụi chết được 25 lần còn lại 9 lần chưa đóng của 3 chân hụi với số tiền là 9.000.000 x 3 = 27.000.000 đồng. Sau khi hốt hụi thì bà L còn nợ lại tiền hụi chưa đóng là 78.000.000 đồng nên bà yêu cầu bà L trả tiền hụi còn thiếu cho bà.

- Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D2 trình bày: bà L tham gia hụi của vợ chồng bà 04 dây hụi, bà L đã hốt hụi, bà đã giao hụi đầy đủ cho bà L. Đến tháng 11 năm 2021 bà L đóng hụi lần cuối được 3.000.000 đồng sau đó bỏ đi cho đến nay. Bà có liên hệ với bà L qua điện thoại có hứa hẹn trả tiền hụi cho bà nhưng đến nay không trả do đó bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L trả lại vợ chồng bà số tiền hụi còn thiếu là 78.000.000 đồng.

- Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Văn D1 thống nhất với lời trình bày của bà D2 và vẫn giữ yêu cầu khởi kiện.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân thủ đúng theo pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của minh theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 471 Bộ luật dân sự, Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà L trả tiền hụi còn thiếu cho bà D2, ông D1 số tiền 78.000.000 đồng. Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị D2 và ông Lê Văn D1 yêu cầu bà Nguyễn Thị L trả tiền hụi, tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp dân sự về hụi thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện M theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Nguyễn Thị L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng đã bỏ địa phương đi vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà L.

Về nội dung: Bà D2, ông D1 cho rằng bà L có tham gia hụi do vợ chồng bà làm chủ, đã hốt hụi và không đóng lại tiền hụi còn thiếu tổng cộng là 78.000.000 đồng.

Xét thấy, ông D1, bà D2 làm chủ hụi chỉ lập danh sách hụi viên nhưng không ghi họ tên, địa chỉ cụ thể; bà L là hụi viên nhưng khi bà D2, ông D1 giao tiền hụi được nhận cho bà L không có biên nhận hoặc tài liệu thể hiện đã giao hụi cho bà L vi phạm các quy định tại Điều 12, 13 14 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường. Khi bà L ngừng đóng hụi cũng không có thông báo cho các hụi viên tham gia cùng dây hụi, việc hụi viên ngừng đóng hụi; sau khi hụi mãn cũng không có biên bản đối chiếu giữa các bên số tiền bà L còn nợ lại. Đối với xác nhận của hụi viên có xác nhận của trưởng ấp thì thấy rằng, hụi viên chỉ ký xác nhận vào văn bản trong khi có dây hụi mà mình không tham gia mà cũng xác nhận và số tiền hụi còn thiếu trong dây hụi không xác định còn thiếu cụ thể là bao nhiêu nên xác nhận này không chính xác hoàn toàn và bà D2, ông D1 không có văn bản hay tài liệu nào khác thể hiện bà L còn nợ tiền hụi sau khi mãn như lời trình bày nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D2, ông D1 về việc đòi tiền hụi bà L.

Đề nghị của kiểm sát viên không phù hợp với phân tích trên nên không được chấp nhận.

Về án phí: Yêu cẩu của bà Nguyễn Thị D2 và ông Lê Văn D1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí là 78.000.000 đồng x 5% = 3.900.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 144; khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Điều 12,13,14 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.

Tuyên xử:

- Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị D2 và ông Lê Văn D1. đối với bà Nguyễn Thị L về việc trả tiền hụi 78.000.000 đồng.

- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Nguyễn Thị D2 và ông Lê Văn D1 phải chịu 3.900.000 đồng, bà D2, ông D1 đã nộp tạm ứng án phí đã nộp số tiền 1.950.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010573 ngày 22/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện M, tỉnh C. chuyển thu án phí, án phí phải nộp tiếp là 1.950.000 (Một triệu, chín trăm năm mươi ngàn) đồng.

- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ