- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy Tâm cùng đồng oo5n phạm tội cố ý gây thuơng tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (đi…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2022/HS-ST Ngày: 12-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sô
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Mạnh Hùng;
2. Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.
Vào ngày 12 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Họ tên Nguyễn Duy T, sinh năm 1988; tại tỉnh Bạc Liêu; tên gọi khác: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 03/12; đăng ký thường trú: Ấp NC, xã VL, huyện HD, tỉnh BL; chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; cha Nguyễn Phước Đ, sinh năm 1961; mẹ Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963; vợ là Nguyễn Diệu L, sinh năm 1989; bị cáo có 02 con lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 22/6/2021, Nguyễn Duy T bị bắt theo lệnh truy nã và bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến nay. Bị cáo có mặt.
2. Họ tên Nguyễn Văn Ng; sinh năm 1994; tại tỉnh Bạc Liêu; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 03/12; nghề nghiệp: Công nhân; đăng ký thường trú: Ấp NC, xã VL, huyện HD, tỉnh BL; chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; cha Nguyễn Phước Đ, sinh năm 1961; mẹ Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963; bị cáo có 07 anh em, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 2000.
Tiền án, Không.
Tiền sự: Ngày 30/01/2019, bị Ủy ban nhân dân xã An Điền xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi tàng trữ cất dấu đồ vật, phương tiện giao Th các loại dao, búa, công cụ, phương tiện khác trong lao động và sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng.
Ngày 08/10/2021, Nguyễn Văn Ng bị bắt theo lệnh truy nã và bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến nay. Bị cáo có mặt.
3. Họ tên Phan Văn Ch, sinh năm 1987; tại tỉnh Bạc Liêu; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn 6/12; đăng ký thường trú: Ấp BD, xã LN, huyện HD, tỉnh BL; chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; cha tên Phan Văn Đ, đã chết và mẹ là bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1945; Bị cáo có 07 anh em, lớn nhất sinh năm 1961, nhỏ nhất là bị cáo; vợ tên Trần H T, sinh năm 1995, bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 06/10/2021, Phan Văn Ch bị bắt theo lệnh truy nã và bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến nay. Bị cáo có mặt.
2. Bị hại: Ông Hồ Sỹ Th, sinh năm 1979. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp TL, xã AĐ, thị xã BC, tỉnh BD. Có mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hồ Sỹ H, sinh năm 1982. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp TL, xã AĐ, thị xã BC, tỉnh BD. Có mặt.
- Bà Nguyễn Diệu L, sinh năm 1989. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp XD, xã NTL, huyện HD, tỉnh BL. Có mặt.
4. Người làm chứng:
- Ông Hồ Sỹ M. Vắng mặt.
- Ông Hà Vũ B. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Duy T và Nguyễn Văn Ng là anh em ruột, Phan Văn Ch là bạn của T và Ng.
Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 22/7/2019, T và Ch cùng uống rượu tại phòng trọ của Ch, nhà trọ không tên, thuộc ấp Tân Lập, xã An Điền, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, T gọi điện thoại kêu Ng đến phòng trọ của Ch chơi. Sau đó, T kể lại sự việc trước đây cha của T và Ng xảy ra tai nạn giao thông ở phía trước nhà trọ Lê Đức Thời thuộc ấp Tân Lập, xã An Điền, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Ông Hồ Sỹ H là người làm chứng, khai bất lợi cho cha của T nên T tức giận rủ Ch và Ng đi đánh anh Hồ Sỹ H, Ch và Ng đồng ý. Sau đó, Ng đi về phòng trọ của mình lấy một con dao tự chế dài khoảng 50cm, lưỡi bằng kim loại và một cây rìu (búa đẻo) cán gỗ, lưỡi bằng kim loại màu đen, rồi đem đến phòng trọ của Ch. Ng đưa dao tự chế cho T cầm, Ng giữ cây rùi, còn Ch lấy một cay búa bằng kim loại, cán gỗ có sẳn trong phòng trọ của Ch để làm hung khí mang đi đánh anh H.
Khoảng 21 giờ 30 phút, cùng ngày, Ng điều khiển xe mô tô, màu đen, biển số 94F1–266.33 của Ng chở Ch và T đi đến nhà trọ Lê Đức Thời thì thấy H đang đứng phía trước phòng trọ nên T, Ch và Ng xuống xe cầm hung khí rượt đuổi đánh, H bỏ chạy vào nhà. Lúc này anh của H là Hồ Sỹ Th đang ở trong ki ốt nhà trọ Lê Đức Thời thấy H bị đuổi đánh nên chạy ra can ngăn. Thấy vậy. T cầm dao tự chế chém một nhát trúng vào lưng của Th. Th bỏ chạy thì bị Ng cầm cây rìu và Ch cầm cây búa đuổi theo đánh trúng một cái vào lưng nhưng không rõ rìu hay búa gây nên. Sau đó, H cùng người dân cầm cây đuổi đánh lại thì T, Ng và Ch bỏ chạy vứt hung khí bên đường (không rõ vị trí), rổi bỏ trốn.
Khoảng 22 giờ cùng ngày, lực lượng công an xã An Điền nhận được tin báo của quần chúng nhân dân nên đến hiện trường phát hiện và thu giữ:
01 (một) xe mô tô hiệu suzuki, biển số 94F1- 266.33, màu đen;
01 (một) dao có cán bằng gỗ màu cam dài khoảng 15cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 45cm;
01 (một) USB màu bạc Amos bên trong chứa 02 tập tin video ghi lại hình ảnh nhóm đối tượng cầm hung khí gây thương tích cho Hồ Sỹ Th.
Theo kết luận giám định pháp y về thương tích số 418/2019/GĐPY, ngày 29/8/2019 và Công văn số 105, ngày 14/9/2021 của Trung T pháp y – Sở y tế tỉnh Bình Dương kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Hồ Sỹ H là 36% (Bằng chữ: Ba mươi sáu phần trăm).
Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương lưng trái, chiều dài nằm ngang từ trái sang phải, hướng từ sau ra trước bờ tương đối gọn, khả năng do vật sắc gây ra. Chấn thương bụng kín vỡ lách, khả năng do vật tày tác động vào vùng hong lưng trái hoặc vùng bụng gây ra.
Tỷ lệ thương tật của từng vết thương: Vết thương lưng trái 6 x 0.3cm, sẹo lành, được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08% . Chấn thương bụng kín vỡ lá lách, đã phẩu thuật cắt lách, sẹo lành, được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 30%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể (tính theo nguyên tắc cộng lùi) của bị hại Hồ Sỹ Th là 36%.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 08/7/2021, vợ của Nguyễn Duy T là bà Nguyễn Diệu L đã bồi thường chi phí điều trị thương tích cho Hồ Sỹ Th số tiền 70.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi triệu đồng), ông Th không yêu cầu gì thêm và có đơn xin gỉam nhẹ hình phạt cho T.
Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKS-BC ngày 15/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn Ng và Phan Văn Ch về tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Qua xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Cố ý gây thương tích”;
Áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Nguyễn Văn Ng và Phan Văn Ch về tội “Cố ý gây thương tích”.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyên Duy T mức án từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm tù;
Đề nghị xử bị cáo Nguyễn Văn Ng mức án từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù;
Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn Ch mức án từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.
Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị Tòa án xử lý vật chứng liên quan trong vụ án.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả và truy tố, các bị cáo không ai có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt.
Bị cáo T trình bày: Bị cáo và gia đình bồi thường đủ số tiền 70.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại, bị cáo T không yêu cầu các bị cáo còn lại hoàn trả lại số tiền mà bị cáo và gia đình đã bỏ ra bồi thường cho bị hại.
Tại phiên tòa, bị hại Hồ Sỹ Th đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho cả 03 bị cáo T, Ng và Ch. Phần bồi thường dân sự bị hại và bị cáo T đã thỏa thuận, giải quyết xong.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Diệu L trình bày: Bà L là vợ của bị cáo T, số tiền 70.000.000 đồng bồi thường cho bị hại là tiền của vợ chồng bà, bị cáo T tác động và gia đình đã bồi thường cho bị hại, bà không yêu cầu các bị cáo khác trả lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của cơ quan Công an thị xã Bến Cát, của Kiểm sát viên và của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hồi đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do nghĩ anh Hồ Sỹ H làm chứng bất lợi cho cha mình trong vụ tai nạn giao Th nên Nguyễn Duy T đã rủ em ruột là Nguyễn Văn Ng và Phan Văn Ch đi đánh H. Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 22/7/2019, tại phía trước nhà trọ Lê Đức Thời thuộc ấp Tân Lập xã An Điền, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn Ng và Phan Văn Ch có hành vi cùng nhau dùng 01 cây dao tự chế, 01 cây rìu vá cây búa đánh chém 02 cái trúng vào vùng lưng và vùng hong của Hồ Sỹ Th, gây thương tích 36%, khi Th ra căn ngăn cả nhóm đánh anh H. Mặc dù không có mâu thuẫn với bị hại nhưng do tư thù cá nhân do bị hại đứng ra làm chứng liên quan đến vụ tại nạn giao Th của cha bị cáo T mà các bị cáo T, Ng và Ch đã dùng dao, búa, rìu là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Hồ Sỹ Th tỷ lệ 36%. Như vậy các bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm và phạm tội mang tính chất côn đồ, gây thương tích tích 36% cho bị hại nên có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn Ng và Phan Văn Ch phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
Về tính chất đồng phạm: Các bị cáo phạm tội không có sự bàn bạc, phân công, cấu kết chặt chẽ nên Hội đồng xét xử xác định phạm tội không có tổ chức, mà chỉ phạm tội mạng tính chất đồng phạm giản đơn. Hội đồng xét xử sẽ phân hóa vai trò và hành vi phạm tội của từng bị cáo khi lượng hình. Cụ thể bị cáo T là người rũ rê, giữ vai trò chính nên vai trò là cao nhất, tiếp đến bị cáo Nguyễn Văn Ng là người chuẩn bị và đi lấy hung khí nên có vai trò cao thứ hai và bị cáo Ch có vai trò thấp nhất.
Về tình chất mức độ hành vi phạm tội: Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết việc dùng hung khí là dao, búa và cây rìu chém đánh và gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố tình thực hiện với lỗi có ý trực tiếp, hậu quả làm cho bị hại bị thương tật 36%. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền bất khả xâm phạm thân thể, sức khỏe của bị hại được pháp luật hình sự bảo vệ. Do vậy, các bị cáo là phải chịu trách nhiệm và bị xử lý theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo T còn có tình tiết khắc phục hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về áp dụng hình phạt: Xét thấy, các bị cáo dùng hung khí nguy hiểm, phạm tội mang tính chất côn đồ, tội phạm nghiêm trọng, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đủ dài để các bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành người có ít cho gia đình và cho xã hội, đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa Ch. Đối với bị cáo T khi lượng hình hội đồng xét xử sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn đối với bị cáo Ng và bị cáo Ch.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng:
Xét thấy, 01 (một) xe mô tơ hiệu suzuki, biển số 94F1 266.33, màu đen là của cá nhân Nguyễn Văn Ng, Ng dùng làm là phương tiện để thực hiện tội phạm nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước ;
Đối với 01 (một) dao có cán bằng gỗ màu cam dài khoảng 15cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 45cm là công cụ bị cáo dùng mục đích phạm tội nên tịch thu tiêu hủy
Đối với 01 (một) USB màu bạc Amos bên trong chứa 02 tập tin video ghi lại hình ảnh nhóm đối tượng cầm hung khí gây thương tích cho Hồ Sỹ Th, Hội đồng xét xử xác định đây là chứng cứ vụ án nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án
. Xét lời đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận;
Đối với hành vi của Nguyễn Duy T dùng dao làm hư hỏng tài sản là tấm kính cửa nhà của bà Nguyễn Thị T và ông Hồ Sỹ H, bà T và ông H không yêu cầu xử lý nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn Ng và Phan Văn Ch phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt và điều luật áp dụng:
Căn cứ các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 và điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2021.
Căn cứ điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 và điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ng 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/10/2021.
Căn cứ điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 và điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phan Văn Ch 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2021;
3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô hiệu suzuki, biển số 94F1 266.33, màu đen của bị cáo Nguyễn Văn Ng;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) dao có cán bằng gỗ màu cam dài khoảng 15cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 45cm.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2022. giữa Công an thị xã Bến Cát với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn Ng và Phan Văn Ch mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm
4. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Đội CSTHAHS-HTTP CA Tx. Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sô |