vanban.org

Bản án 22/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương Tuyên án 04/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Tất Th phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”

2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Tất Th 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trịnh Tất Th cho Ủy ban nh n d n thị trấn R, huyện N, t nh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách Trường hợp người được hưở… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Tất Th - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Tất Th phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự Điểm a; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2022/HSST
Ngày: 04/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH – TỈNH HẢI DƯƠNG

- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ng Nguy n Văn Trung

Các Hội thẩm nhân dân: ng Phạm Việt Phương và ông Nguy n Trọng Bộ.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Đinh Thị Thu, Thư ký Toà án nh n d n huyện im Thành t nh Hải Dương

- i diện Viện kiểm sát nh n d n hu ện im Thành t nh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Vui iểm sát viên

Ngày 04 tháng 5 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nh n d n huyện im Thành t nh Hải Dương xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự đã thụ lý số 16/2022/HSST ngày 21 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/QĐXXST-HS ngày 28/3/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/QĐHPT-HS ngày 12/4/2022; Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số 03/TB-TA ngày 26/4/2022, đối với bị cáo Trịnh Tất Th , sinh năm 1973. Giới tính: Nam Nơi cư trú: Tổ d n phố số 9, thị trấn R, huyện N, t nh Nam Định. Quốc tịch: Việt Nam. D n tộc: Kinh. Tôn giáo: hông Trình độ văn hoá: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên bố: Trịnh Tất Th1 (đã chết). Họ tên mẹ: Nguy n Thị Ng (đã chết). Họ tên vợ: Bùi Thị Hồng N. Bị cáo có 02 con con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2001. Tiền án tiền sự: hông Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Phạm Văn H sinh năm 1976 Địa ch : Xóm V xã N huyện T, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

hoảng cuối năm 2018 Trịnh Tất Th được một người đàn ông tên Q ở t nh Nam Định cho số điện thoại của một người đàn ông tên D (đều không rõ họ tên địa ch cụ thể) giới thiệu là thầy dạy lái xe ô tô Th liên hệ với D để đăng ký học lái xe được D báo không phải học lý thuyết ch thi thực hành tổng chi phí là 7 500 000 đồng Th đồng ý và nhờ một người không quen biết chuyển 1 500 000 đồng qua tài khoản ng n hàng (không nhớ số tài khoản) cho D đồng thời chụp ảnh ch n dung 3x4 Giấy chứng minh thư nh n d n của Th gửi qua zalo cho D . hoảng 4-5 tháng sau D gọi điện thông báo cho Th đến huyện B, Thành Phố Hà Nội thi sát hạch lái xe (không rõ địa điểm cụ thể) Th bảo D do bận việc nên Th không đi thi được D bảo Th không cần thi khoảng 01 tháng sau sẽ có giấy phép lái xe Sau đó có một người thanh niên (không rõ tên tuổi địa ch ) đến giao cho Th 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 010153001484 mang tên Trịnh Tất Th có giá trị đến ngày 18/02/2024 do Sở giao thông vận tải Hà Nội cấp ngày 18/02/2019 và 01 bộ hồ sơ (Th đã làm mất) Th kiểm tra thông tin và ảnh trên Giấy phép lái xe đúng của Th , Th nhận và thanh toán cho người này 6 000 000 đồng (theo Th khai) Bản th n Th biết việc không học không thi sát hạch lái xe thì sẽ không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép lái xe nên nhận thức được giấy phép lái xe nêu trên là giả Ngày 31/12/2019 Th sử dụng giấy phép lái xe nêu trên để xin việc vào làm nh n viên lái xe của Công ty TNHH vận tải và thương mại M, địa ch tại thôn 4 xã V huyện T, Thành Phố Hà Nội Sau khi ký kết hợp đồng lao động Th được công ty giao điều khiển xe ô tô biển tải số 29C-448 62 chở hàng Đến ngày 28/4/2021 Th điều khiển xe ô tô trên hành trình từ Hà Nội đi Hải Phòng khi đến m 62+800 thuộc địa phận thôn Lai hê xã Cộng Hòa huyện im Thành t nh Hải Dương thì bị lực lượng Phòng cảnh sát giao thông Công an t nh Hải Dương dừng xe do vượt quá tốc độ quy định hi lực lượng cảnh sát giao thông yêu cầu kiểm tra giấy tờ Th xuất trình giấy phép lái xe hạng C mang tên Trịnh Tất Th do nghi ngờ là giấy tờ giả lực lượng cảnh sát giao thông đã tạm giữ lập biên bản và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện im Thành xác minh giải quyết theo thẩm quyền

Tại bản ết luận giám định số 5951/C09-P5 ngày 30/9/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Giấy phép lái xe số 010153001484 mang tên Trịnh Tất Th ngày 18/02/2019 là Giấy phép lái xe giả

Quá trình điều tra truy tố bị cáo Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản vụ việc vật chứng thu giữ lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 19/CT-V S ngày 18/03/2022 Viện iểm sát nh n d n huyện Kim Thành t nh Hải Dương truy tố Trịnh Tất Th về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xác định Viện kiểm sát nh n d n huyện im Thành t nh Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự là đúng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt

Đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện im Thành t nh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trịnh Tất Th phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”

Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i s khoản 1 Điều 51; khoản 1 2 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Tất Th từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 đến 24 tháng thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm Giao bị cáo Th cho Ủy ban nh n d n thị trấn R, huyện N, t nh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách

Về hình phạt bổ sung: hông áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 giấy phép lái xe số 010153001484 ngày 18/02/2019 mang tên Trịnh Tất Th .

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng Do đó các hành vi quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

Về hành vi của bị cáo và các chứng cứ xác định tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo người làm chứng tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Trịnh Tất Th không trực tiếp đi nộp hồ sơ không đi thi sát hạch lái xe mà nhờ người tên D làm bằng lái xe với giá 7 500 000 đồng. Ngày 31/12/2019 Th sử dụng giấy phép lái xe nêu trên để xin việc vào làm nh n viên lái xe của Công ty TNHH vận tải và thương mại M Sau khi ký kết hợp đồng lao động Th được công ty giao điều khiển xe ô tô tải biển số 29C-448 62 chở hàng Đến ngày 28/4/2021 Th điều khiển xe ô tô trên hành trình từ Hà Nội đi Hải Phòng khi đến m 62+800 thuộc địa phận thôn Lai hê xã Cộng Hòa huyện im Thành t nh Hải Dương thì bị lực lượng Phòng cảnh sát giao thông Công an t nh Hải Dương dừng xe do vượt quá tốc độ quy định hi lực lượng cảnh sát giao thông yêu cầu kiểm tra giấy tờ Th xuất trình giấy phép lái xe hạng C mang tên Trịnh Tất Th .

Tại bản ết luận giám định số 5951/C09-P5 ngày 30/9/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Giấy phép lái xe số 010153001484 mang tên Trịnh Tất Th , ngày cấp 18/02/2019, là Giấy phép lái xe giả

Bị cáo Trịnh Tất Th là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự biết rõ việc không học không thi sát hạch lái xe thì sẽ không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép lái xe nên bị cáo nhận thức được giấy phép lái xe nêu trên là giả Mặc dù biết rõ việc sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức (Giấy phép lái xe giả) là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn sử dụng để lừa dối xin việc vào làm nh n viên lái xe của Công ty TNHH vận tải và thương mại M và lưu thông xe trên đường bộ. Hành vi của bị cáo Trinh Tất Th đã cấu thành tội: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 19/CT-V S ngày 18/03/2022 Viện iểm sát nh n d n huyện Kim Thành, t nh Hải Dương và lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện im Thành t nh Hải Dương tại phiên tòa đã truy tố bị cáo Trịnh Tất Th về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội đúng pháp luật

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội x m phạm trật tự quản lý hành chính sự hoạt động đúng đắn bình thường và uy tín của cơ quan Nhà nước trong quản lý hành chính bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; ngoài ra còn làm ảnh hưởng và có thể làm mất an toàn giao thông công cộng. Vì vậy cần có hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe giáo dục bị cáo và phòng chống tội phạm tương tự có thể xảy ra.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo Th khẩn khai báo thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: hông có

3/ Về quyết định hình phạt: Qua ph n tích đánh giá các chứng cứ căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nh n th n mục đích phạm tội của bị cáo HĐXX xét thấy bị cáo là người lao động lương thiện mục đích sử dụng giấy phép lái xe giả là để xin việc làm chính đáng có thu nhập chính đáng cho bản th n và gia đình; bản th n bị cáo lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo thái độ thực sự ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Do vậy không cần thiết buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành công d n có ích cho xã hội

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền sung quỹ Nhà nước xét hoàn cảnh bị cáo hiện khó khăn do không có việc làm không có tài sản mục đích xin việc làm để có thu nhập nuôi sống gia đình nên không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xác định Giấy phép lái xe số 010153001484 mang tên Trịnh Tất Th cấp ngày 18/02/2019 là Giấy phép lái xe giả, cần tịch thu tiêu hủy

Về hành vi làm giả giấy phép lái xe: Hiện chưa xác định được đối tượng Q và D là ai, ở đ u nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu mi n giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trịnh Tất Th bị kết án nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 341; điểm i s khoản 1 Điều 51; khoản 1 2 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

1/ Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Tất Th phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”

2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Tất Th 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trịnh Tất Th cho Ủy ban nh n d n thị trấn R, huyện N, t nh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú trong phạm vi huyện, quân, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm chuyển hồ sơ thi hành án treo cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy 01 giấy phép lái xe số 010153001484 mang tên Trịnh Tất Th do Sở Giao thông vận tải Hà Nội cấp ngày 18/02/2019.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng tài sản lập hồi 09 giờ 30 phút ngày 04/4/2022 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện im Thành .

4/ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án Bị cáo Trịnh Tất Th phải chịu 200 000đồng án phí sơ thẩm hình sự

5/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ