vanban.org

Bản án 22/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 23/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2022/HS-ST
Ngày 23 - 12 -2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ B, TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Văn Liêm.

2. Ông Trần Công Luân.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sơn – Thẩm tra viên Toà án nhân dânthành phố B, tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh B tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Thuật - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại điểm cầu Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B và điểm cầu Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số:

19/2022/HSST, ngày 29 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Nông Văn L, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 21 tháng 02 năm 1995, tại Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 1A, phường Đ, thành phố B, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Con ông Nông Văn Cư và bà Chu Thị L1; Bị cáo chung sống như vợ chồng với Triệu Thị H, có 01 con sinh năm 2016; Tiền sự: Không; Tiền án: 02 tiền án (Bản án số 07/2020/HS-ST ngày 15/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B xử phạt Nông Văn L 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 64/2021/HS-ST ngày 31/8/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B xử phạt Nông Văn L 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 08/6/2022 chấp hành xong hình phạt tù, đến nay đều chưa được xóa án tích).

Nhân thân: Ngày 02/6/2017, bị Công an phường Đ, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền 1.700.000 đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngày 07/9/2017 L đã chấp hành xong; Ngày 05/4/2020, bị Công an thành phố B, tỉnh B xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền 1.500.000 đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”, L chưa thi hành xong quyết định nhưng đã hết thời hiệu thi hành và đã hết thời hạn được coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 28/9/2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: - Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 1955.

Nghề nghiệp: Hưu trí. (Vắng mặt có lý do).

Địa chỉ: Tổ 1A, phường Đ, thành phố B, tỉnh B.

- Công ty cổ phần sản xuất, chế biến và xuất khẩu lâm sản

Tracimexco.

Đại diện theo pháp luật: Đỗ Xuân K, sinh năm 1978.

Đại diện theo ủy quyền: Đỗ Minh T, sinh năm 1976.

Đều có địa chỉ: Tổ 13, phường N, thành phố B, tỉnh B. (Vắng mặt có lý do)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: - Nông Văn B, sinh năm 1976.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Địa chỉ: Tổ B, phường H, thành phố B, tỉnh B.

- Vũ Xuân V, sinh năm 1960.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt có lý do).

Địa chỉ: Tổ 1, phường N, thành phố B, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 27/9/2022, tại tổ 1A, phường Đ, thành phố B và tổ K, phường H, thành phố B, tỉnh B, Nông Văn L đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 01 giờ ngày 27/9/2022, Nông Văn L một mình đi bộ từ nhà thuộc tổ 1A, phường Đ, thành phố B, tỉnh B đến khu vực sau nhà bà Nguyễn Thị Minh N với mục đích để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, L thấy sau khu nhà bà N có vườn và thấy có chuồng nuôi nhốt gà quây bằng lưới B40 nên đã nảy sinh ý định trộm cắp gà của bà N mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ngay sau khi nảy sinh ý định, L trèo qua tường, đi vào khu chuồng gà của bà N rồi dùng tay kéo lưới B40 quây chuồng gà ra và bắt được 04 (Bốn) con gà, loại gà ri lai trọi (gồm 03 con mái, 01 con trống). Sau đó, L cho tất cả 04 con gà vào trong 01 bao tải màu xanh đã cũ mà L đã chuẩn bị từ trước và nhanh chóng đi ra ngoài, đem bao tải đựng gà đi cất giấu trong bụi cây tại khu vực gầm cầu Huyền Tụng thuộc tổ 17, phường N, thành phố B rồi đi về nhà ngủ. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, L dậy và đi ra nơi cất giấu lấy bao tải đựng gà trộm cắp được để mang đi bán lấy tiền tiêu xài. Khi đang trên đường đi tìm nơi tiêu thụ thì L bị lực lượng Công an phường Đ, thành phố B kiểm tra phát hiện. Vì lo sợ bị bắt nên L đã ném bao tải đựng 04 (Bốn) con gà trên xuống mương nước thuộc tổ 17, phường N, thành phố B, tỉnh B rồi bỏ chạy về khu vực phường Huyền Tụng, thành phố B, tỉnh B. Công an phường Đ, thành phố B tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng và tiến hành cân xác định 04 (Bốn) con gà nói trên có tổng trọng lượng là 06kg (Sáu ki lô gam).

Tại Kết luận định giá tài sản số 210 ngày 30/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 04 con gà loại gà ri lai trọi tổng trọng lượng 06kg có giá là: 840.000đ (tám trăm bốn mươi nghìn đồng).

Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 27/9/2022, L một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97F3-3115 đi lên khu vực tổ K, phường H, thành phố B, tỉnh B thì thấy có một nhà xưởng chế biến gỗ không có người trông coi (Đây là nhà xưởng chế biến gỗ của Công ty Cổ phần sản xuất, chế biến và xuất khẩu lâm sản TRACIMEXCO do ông Đỗ Xuân Kỳ là giám đốc, xưởng sản xuất này do ông Đỗ Minh T1 trông coi, bảo vệ). L dừng xe mô tô ở ngoài và đi vào trong xưởng tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Qua tìm kiếm, L lấy trộm được trong xưởng một số tài sản là sắt gồm: 01 (một) khung giường bằng sắt kích thước 80x150x20cm; 01 (một) lồng hình khối tròn rỗng kích thước 80x40cm; 02 (hai) khung sắt chữ V kích thước 60x50x50cm; 01 (một) đoạn ống sắt mạ kẽm hình trụ kích thước 190x50cm; 01 (một) đoạn ống sắt mạ kẽm hình trụ kích thước 120x50cm; 01 (một) đoạn ống sắt mạ kẽm hình trụ kích thước 89x05cm; 01 (một) đoạn sắt mạ kẽm hình hộp kích thước 190x05x02cm; 02 (hai) đoạn sắt mạ kẽm hình hộp có cùng kích thước 160x05x02cm; 01 (một) đoạn sắt mạ kẽm hình hộp kích thước 90x06x03cm; 01 (một) đoạn sắt đặc hình trụ kích thước 86x05cm và 01 (một) đoạn sắt chữ V kích thước 115x05cm, có tổng trọng lượng là 64kg (Sáu mươi tư ki lô gam). Sau đó L đặt toàn bộ số sắt nói trên lên xe mô tô rồi chở đến quán thu mua phế liệu của ông Vũ Xuân V và bán cho ông V được số tiền 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng). Số tiền này L đã sử dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 214 ngày 02/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Bkết luận toàn bộ số sắt có tổng trọng lượng 64kg (dạng phế liệu) có giá trị là: 448.000đ (bốn trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

Sau khi phát hiện bị mất tài sản, bà Nguyễn Thị Minh N và ông Đỗ Minh T1 đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc. Đến 14 giờ 00’ ngày 28/09/2022, Nông Văn L đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đầu thú.

* Về vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY đã qua sử dụng. Qua điều tra, xác định chiếc xe mô tô trên thuộc sở hữu của ông Nông Văn B cho Nông Văn L mượn vào ngày 27/9/2022. Do ông B không biết việc Nông Văn L mượn chiếc xe mô tô trên rồi sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho ông Nông Văn B.

Đối với 01 (Một) khung giường bằng sắt có kích thước 80x150x20cm; 01 (Một) lồng sắt hình khối tròn rỗng có kích thước 80x40cm; 02 (Hai) khung sắt chữ V có kích thước 60x50x50cm; 01 (Một) đoạn ống sắt mạ kẽm hình trụ có kích thước 190x05cm; 01 (Một) đoạn ống sắt mạ kẽm hình trụ có kích thước 120x05cm; 01 (Một) đoạn ống sắt mạ kẽm hình trụ có kích thước 89x05cm; 01 (Một) đoạn sắt mạ kẽm hình hộp có kích thước 190x05x02cm; 01 (Một) đoạn sắt mạ kẽm hình hộp có kích thước 160x05x02cm; 01 (Một) đoạn sắt mạ kẽm hình hộp có kích thước 160x05x02cm; 01 (Một) đoạn sắt mạ kẽm hình hộp có kích thước 90x06x03cm; 01 (Một) đoạn sắt đặc hình trụ có kích thước 86x05cm; 01 (Một) đoạn sắt chữ V có kích thước 115x06x05cm, có tổng trọng lượng 64kg. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định số sắt trên là của Công ty Cổ phần sản xuất, chế biến và xuất khẩu lâm sản TRACIMEXCO mà ông Đỗ Minh T1 là đại diện theo ủy quyền nên đã trả lại cho ông T1.

Đối với 04 (Bốn) con gà, loại gà ri lai trọi (gồm 03 con mái, 01 con trống), có tổng trọng lượng 06 ki lô gam mà Nông Văn L trộm cắp của bà Nguyễn Thị Minh N, cùng chiếc bao tải L dùng đựng gà, khi bị Cơ quan Công an phát hiện, L đã vứt bao tải đựng gà xuống mương nước khiến cả 04 con gà đều bị chết. Sau khi tiến hành lập biên bản thu giữ và cân trọng lượng, để đảm bảo vệ sinh môi T1, Công an thành phố Bđã tiến hành tiêu hủy 04 con gà và chiếc bao tải trên theo quy định.

Đối với số tiền 700.000 đồng Nông Văn L có được do bán sắt trộm cắp vào ngày 27/9/2022, do L đã tiêu xài cá nhân hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Quá trình điều tra, Nông Văn L còn khai: Khi thực hiện hành vi trộm cắp gà của bà Nguyễn Thị Minh N vào khoảng 01 giờ ngày 27/9/2022 thì L có sử dụng 01 chiếc đèn pin để soi sáng phục vụ việc trộm cắp. Tuy nhiên, trong quá trình mang số gà trộm cắp được đi cất giấu rồi đi về nhà thì L đã bị rơi mất chiếc đèn pin đó, không xác định được rơi ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

* Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Minh N, ông Đỗ Minh T1 là bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại và ông Vũ Xuân V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu Nông Văn L phải bồi thường về dân sự.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố tại bản cáo trạng số 71/CT - VKSTPBK ngày 29/11/2022 truy tố bị cáo Nông Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tại bản luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:

- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Nông Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nông Văn L từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2022.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

Bị cáo L nói lời sau cùng, có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Nông Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 27/9/2022, Nông Văn L lại 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 01 giờ ngày 27/9/2022, tại tổ 1A, phường Đức Xuân, thành phố B, Nông Văn L trộm cắp 04 (Bốn) con gà, loại gà ri lai trọi, có tổng trọng lượng 06 ki lô gam, tổng trị giá 840.000 đồng của bà Nguyễn Thị Minh N. Khi đang trên đường mang gà đi tiêu thụ thì bị Cơ quan Công an phát hiện nên L đã vứt số gà trên xuống mương nước rồi bỏ chạy.

Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 27/9/2022, Nông Văn L trộm cắp 64 ki lô gam sắt (dạng phế liệu), có tổng trị giá 448.000 đồng tại xưởng chế biến gỗ của Công ty Cổ phần sản xuất, chế biến và xuất khẩu lâm sản TRACIMEXCO thuộc tổ K, phường H, thành phố B, tỉnh B. Sau đó L mang số sắt trộm cắp được đi bán cho ông Vũ Xuân V được số tiền 700.000 đồng rồi sử dụng hết số tiền trên vào mục đích chi tiêu cá nhân.

Trước đó, vào ngày 15/01/2020 và ngày 31/8/2021, Nông Văn L đã 02 lần bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B kết án đều về tội “Trộm cắp tài sản” và chưa được xóa án tích, thì ngày 27/9/2022, L lại 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Như vậy, tuy giá trị tài sản mà L trộm cắp cả hai lần đều chưa đến 2.000.000đ (Hai triệu đồng) nhưng hành vi lần này của L đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các T1 hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm…

b) Đã bị kết án về tội này …chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu: Đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa tiền sự; có 02 tiền án.

Mỗi lần thực hiện hành vi trộm cắp trong ngày 27/9/2022 của L đều đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định ở điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là: “Phạm tội nhiều lần”.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Khi bị phát hiện, bị cáo đã ra đầu thú; Hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại không lớn; Bị cáo có ông nội, bà nội là Nông Văn A và Hà Thị A1 là người có công với Cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và Huy chương kháng chiến hạng nhì. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Sau khi xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy bị cáo có sức khỏe nhưng lười lao động, lại đua đòi, ăn chơi, mắc vào tệ nạn xã hội (bị cáo nghiện ma túy) nên đã có hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo đã nhiều lần bị kết án, bị xử phạt hành chính cùng về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục vi phạm pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích và để phòng ngừa chung.

Về vật chứng trong vụ án: + Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY xe mô tô biển kiểm soát 97F3-3115 đã qua sử dụng của ông Nông Văn B cho Nông Văn L mượn vào ngày 27/9/2022. Do ông B không biết việc Nông Văn L mượn chiếc xe mô tô trên rồi sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho ông Nông Văn B, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Đối với 01 (Một) khung giường bằng sắt có kích thước 80x150x20cm; 01 (Một) lồng sắt hình khối tròn rỗng có kích thước 80x40cm; 02 (Hai) khung sắt chữ V có kích thước 60x50x50cm; 01 (Một) đoạn ống sắt mạ kẽm hình trụ có kích thước 190x05cm; 01 (Một) đoạn ống sắt mạ kẽm hình trụ có kích thước 120x05cm; 01 (Một) đoạn ống sắt mạ kẽm hình trụ có kích thước 89x05cm; 01 (Một) đoạn sắt mạ kẽm hình hộp có kích thước 190x05x02cm; 01 (Một) đoạn sắt mạ kẽm hình hộp có kích thước 160x05x02cm; 01 (Một) đoạn sắt mạ kẽm hình hộp có kích thước 160x05x02cm; 01 (Một) đoạn sắt mạ kẽm hình hộp có kích thước 90x06x03cm; 01 (Một) đoạn sắt đặc hình trụ có kích thước 86x05cm; 01 (Một) đoạn sắt chữ V có kích thước 115x06x05cm, có tổng trọng lượng 64kg, Cơ quan điều tra đã trả cho ông Đỗ Minh T1 – Đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần sản xuất, chế biến và xuất khẩu lâm sản TRACIMEXCO. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Đối với 04 (Bốn) con gà, loại gà Ri lai trọi (gồm 03 con mái, 01 con trống), có tổng trọng lượng 06 ki lô gam mà Nông Văn L trộm cắp của bà Nguyễn Thị Minh N, cùng chiếc bao tải L dùng đựng gà, khi bị Cơ quan Công an phát hiện, L đã vứt bao tải đựng gà xuống mương nước khiến cả 04 con gà đều bị chết. Công an thành phố Bđã tiến hành tiêu hủy 04 con gà và chiếc bao tải trên. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Quá trình điều tra, Nông Văn L còn khai: Khi thực hiện hành vi trộm cắp gà của bà Nguyễn Thị Minh N vào khoảng 01 giờ ngày 27/9/2022 thì L có sử dụng 01 chiếc đèn pin để soi sáng phục vụ việc trộm cắp. Tuy nhiên, trong quá trình mang số gà trộm cắp được đi cất giấu rồi đi về nhà thì L đã bị rơi mất chiếc đèn pin đó, không xác định được rơi ở đâu, Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không có căn cứ để xử lý. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Minh N, ông Đỗ Minh T1 là bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại và ông Vũ Xuân V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu Nông Văn L phải bồi thường về dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có khả năng để thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trong vụ án này có Vũ Xuân V là người đã mua số sắt do Nông Văn L trộm cắp vào ngày 27/9/2022, tuy nhiên khi mua sắt với L thì ông V không biết số sắt đó là tài sản do L trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với ông V, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Ngoài ra còn có Nông Văn B là người đã cho Nông Văn L mượn xe mô tô biển kiểm soát 97F3-3115, L đã dùng chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, do ông B không biết việc Nông Văn L mượn chiếc xe mô tô để sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với ông B, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QuyÕt ®Þnh:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nông Văn L 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2022.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo Nông Văn L phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ/.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ