- Tranh chấp gì? án hình sự — "S phạm tội CƯỚP GIẬT TÀI SẢN - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Ngọc S phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HS-ST. Ngày: 18-01-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Minh Hùng.
2. Bà Hoàng Thị Cát Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Chinh – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 228/2021/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 396/2021/QĐXXST-HS ngày 20/12/2021 và Thông báo số 01/2022/TB-TA ngày 04/01/2022 đối với bị cáo:
Hồ Ngọc S, sinh năm 1988, tại Bình Định.
Hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Vĩnh Hảo, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Ngọc T, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; Bị cáo là con út trong gia đình có 3 anh chị em; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị T1 (đã ly hôn) và có 1 con sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/6/2021 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nhơn Trạch.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1985.
Địa chỉ thường trú: Xã Yên Trường, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
Chỗ ở hiện nay: Khu phố Phước Kiểng, thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo có mặt, bị hại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 15/6/2021, Hồ Ngọc S (sinh năm 1988) điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 47P4-0858 đến tiệm điện thoại Quang Mobile thuộc khu phố Phước Kiểng, thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch để chuộc lại chiếc điện Samsung J7 Pro mà S đã cầm tại tiệm vào ngày 09/6/2021 với giá 1.000.000 đồng. Khi đến nơi, S dựng xe trước tiệm và đi vào cửa tiệm đưa Giấy cầm điện thoại cho chị Nguyễn Thị X (sinh năm 1981) là chủ cửa tiệm. Chị X nhận giấy cầm đồ, lấy chiếc điện thoại Samsung J7 Pro và thông báo cho S là phải trả số tiền cầm đồ 1.000.000 đồng và 30.000 đồng tiền lãi. Lúc này S nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại trên để không phải trả số tiền 1.030.000 đồng cho chị X. S lấy điện thoại và nói chị X để S chuyển tiền qua tài khoản cho chị X. Chị X cúi người lấy điện thoại để đọc số tài khoản cho S chuyển tiền. Lợi dụng lúc chị X không để ý nên S liền cầm điện thoại bỏ chạy đi. Khi S vừa ngồi lên xe mô tô mang biển kiểm soát: 47P4-0858 để nổ máy xe chạy đi thì chị X phát hiện truy hô “Cướp, cướp” và cùng người dân gần đó bắt giữ được S và giao cho Công an thị trấn Hiệp Phước lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 38/KLĐG-HĐĐG ngày 22/6/2021 của Hội dồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nhơn Trạch kết luận chiếc điện thọai Samsung J7 Pro trị giá 1.700.000 đồng.
* Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô chiếc xe mô tô hiệu Wave mang biển kiểm soát: 47P4-0858.
- 01 điện thoại Samsung J7 Pro.
- 01 USB bên trong có chứa đoạn Video ghi hình ảnh Hồ Ngọc S thực hiện hành vi Cướp giật tài sản.
Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch, cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nêu trên phù hợp với lời khai bị hại cùng các vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập tại hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 214/CT-VKS-NT ngày 15/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo Hồ Ngọc S về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố. Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hai có đơn bãi nại. Theo tìm hiểu, được biết bị cáo S có thái độ chấp hành tốt các quy định tại nơi tạm giữ, tạm giam Công an huyện Nhơn Trạch nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Ngọc S mức án tù giam từ 12 tháng đến 14 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 1.030.000 đồng, bị hại đã có đơn bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại Samsung J7 Pro đã xử lý vật chứng trả cho Hồ Ngọc S.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng; bị cáo không tranh luận, bào chữa về hành vi của mình; bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ, nhưng tại phiên tòa, bị hại vắng mặt không lý do. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử, do sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tình tiết, vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án về đặc điểm tài sản, thời gian và phương thức mà bị cáo chiếm đoạt, cụ thể:
Vào lúc 10 giờ ngày 17/6/2021, tại tiệm dịch vụ cầm đồ Quang Mobile thuộc khu phố Phước Kiểng, thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, bị cáo Hồ Ngọc S đã thực hiện hành vi giật lấy chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro có giá trị 1.700.000 đồng của mình đang bị đem đi cầm tại đây (S lấy tên khách hàng là Hùng ghi trong hợp đồng cầm đồ) để không phải trả số tiền chuộc 1.030.000 đồng cho chị X (chủ tiệm). Lợi dụng lúc chị X không để ý, vì đang cúi người xuống lấy điện thoại để đọc số tài khoản cho S chuyển tiền thì bị cáo S liền cầm điện thoại bỏ chạy lên xe máy nhanh chóng tẩu thoát và bị cáo bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo S là chiếm đoạt tài sản một cách công khai và nhanh chóng tẩu thoát. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Hồ Ngọc S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Trong vụ án này, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một mình. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo nhằm để không phải trả số tiền chuộc 1.030.000 đồng cho bị hại X, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, công khai và trên thực tế bị cáo đã thực hiện việc chiếm đoạt được tài sản như ý định của bị cáo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội.
Ngoài ra, hành vi phạm tội của bị cáo cũng đã ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân.
Xét tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Xét tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, bị hại có đơn bãi nại yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Hơn nữa, tại hồ sơ cũng thể hiện gia cảnh của bị cáo thuộc diện khó khăn về kinh tế nên Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng pháp luật của Nhà nước.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên cần áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và nhận thấy mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt ngắn hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam (thời gian tạm giữ từ ngày 17/6/2021 và chuyển tạm giam đến nay là 07 tháng 01 ngày tù). Áp dụng Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự trả tự do cho bị cáo S ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác, vì thời gian tạm giữ, tạm giam bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo nên không cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo ra ngoài xã hội.
Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự:
+ Ghi nhận cơ quan điều tra đã trả 01 điện thoại Samsung J7 Pro cho chủ sở hữu là bị cáo Hồ Ngọc S do ông Hồ Ngọc T là cha ruột bị cáo nhận thay.
+ Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 1.030.000 đồng, bị hại có đơn bãi nại và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên không xem xét giải quyết.
Ghi nhận ông Hồ Ngọc T (cha ruột của bị cáo) do bị cáo tác động thay mặt bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 1.030.000 đồng, và không yêu cầu bị cáo S hoàn lại số tiền trên, nên không xem xét giải quyết. Đồng thời, ông T có yêu cầu không đưa ông vào tham gia tố tụng.
Về án phí:
- Buộc bị cáo Hồ Ngọc S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vấn đề khác:
- Ghi nhận 01 USB bên trong có chứa đoạn Video ghi hình ảnh Hồ Ngọc S thực hiện hành vi Cướp giật tài sản là tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu tại hồ sơ vụ án.
- Đối với chiệc xe mô tô mang biển kiểm soát 47P4-0858, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra đang xác minh chủ sở hữu nên tách ra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; các điểm b, s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Hồ Ngọc S phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc S 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 17/6/2021.
Căn cứ Khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Trả tự do cho bị cáo Hồ Ngọc S ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo S không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 46, 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Ghi nhận cơ quan điều tra đã trả 01 điện thoại Samsung J7 Pro cho chủ sở hữu là bị cáo Hồ Ngọc S do ông Hồ Ngọc T là cha ruột bị cáo nhận thay.
+ Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
Ghi nhận 01 USB bên trong có chứa đoạn Video ghi hình ảnh Hồ Ngọc S thực hiện hành vi Cướp giật tài sản là tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu tại hồ sơ vụ án.
Đối với chiệc xe mô tô mang biển kiểm soát 47P4-0858, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra đang xác minh chủ sở hữu nên tách ra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Buộc bị cáo Hồ Ngọc S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND H. Nhơn Trạch; - Công an H. Nhơn Trạch; - Chi cục THADS H. Nhơn Trạch; - Bị cáo; bị hại; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hường |