- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng Thị C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HS-ST Ngày: 22-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Phong
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lành Văn Thủy
Ông Vi Văn Thuy
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa:
Bà Điêu Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2022/TLST-HS ngày 31/5/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Sùng Thị C (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 01/01/1972; Tại huyện Ph, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản H, xã Q, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sùng A T (đã chết) và bà Phàng Thị P; Có chồng là Thào A D và có 04 người con, con lớn nhất 27 tuổi, con nhỏ nhất 15 tuổi; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/4/2022 đến ngày 24/4/2022, tạm giam từ ngày 24/4/2022 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Mai Thị Thanh Liêm - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
Người phiên dịch cho bị cáo:
Anh Kháng Quang Vinh; Sinh năm 1992;
Nơi cư trú: Tổ dân cư số 2, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên – có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 15/4/2022 Sùng Thị C đang trên đường đi làm nương về đến khu vực bản Huổi Sái Lương, xã Quảng Lâm, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên thì gặp được một người đàn ông không quen biết, qua nói chuyện, C hỏi mua được của ông ta 04 gói heroine được gói trong 04 túi nilong màu hồng, với giá 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng), mục đích C mua heroine là để bán kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, C cầm số ma túy mua được trong tay trái rồi tiếp tục đi bộ về nhà. Khi về đến nhà C cất giấu 04 gói heroine mua được ở chạn bát đũa của gia đình.
Đến khoảng 19 giờ 40 phút, cùng ngày 15/4/2022 khi Sùng Thị C đang ở nhà tại bản H, xã Q, huyện M, tỉnh Điện Biên thì có 01 người đàn ông không quen biết vào nhà C hỏi mua ma túy, C đồng ý bán cho ông ta 01 gói heroine, với giá 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng), khi người đàn ông vừa đưa tiền cho Sùng Thị C thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé vào kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 04 gói heroine ở trên bàn uống nước và số tiền 250.000 đồng. Còn người đàn ông đã bỏ chạy thoát.
Ngày 16/4/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Nhé cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, trích 0,75 gam làm mẫu giám định và ra quyết định trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 556/KL-KTHS ngày 23/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Sùng Thị C gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine; Khối lượng vật chứng thu giữ của Sùng Thị C là 1,63 gam.
Bản cáo trạng số: 20/CT-VKS-MN ngày 31/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Sùng Thị C để xét xử về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Sùng Thị C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS đối với bị cáo; Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số heroine còn lại sau khi trích giám định, trả lại cho bị cáo 250.000đồng; Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, tình tiết giảm nhẹ, án phí và xử lý vật chứng. Về hình phạt, đề nghị HĐXX xem xét hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là đồng bào dân tộc thiểu số, không được học hành, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, đề nghị xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo Sùng Thị C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, nhất trí với luận cứ bào chữa của luật sư cũng như luận tội của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tại phiên tòa bị cáo khai vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 15/4/2022 tại khu vực bản Huổi Sái Lương, xã Quảng Lâm, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, bị cáo gặp và mua được 1,63 gam heroine của một người đàn ông dân tộc Mông (bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ của người này). Mục đích bị cáo mua heroine là để bán lẻ kiếm lời, sau khi mua được heroine, bị cáo cất giấu tại nhà ở của bị cáo. Đến 19 giờ 40 phút ngày 15/4/2022, khi bị cáo đang bán heroine cho một người đàn ông lạ mặt thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Sùng Thị C đã thực hiện hành vi mua bán trái phép ma túy với khối lượng là 1,63 gam heroine.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân.Vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, là dân tộc thiểu số, không được học hành, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt đối với bị cáo:
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy, đề nghị xử phạt của người bào chữa và Đại diện viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận, xử phạt bị cáo như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát và người bào chữa.
Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo còn nhiều khó khăn, không có tài sản gì có giá trị, thuộc diện hộ nghèo (theo Giấy chứng nhận hộ nghèo số 310 ngày 01/01/2022 do UBND xã Quảng Lâm cấp). Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 251 BLHS đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông mua ma túy của bị cáo: Quá trình điều tra, không xác định được những người này là ai, ở đâu. Do đó không có cơ sở để xem xét xử lý.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,88 gam heroine còn lại sau khi trích gửi giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 250.000 đồng thu giữ của bị cáo. Mặc dù bị cáo khai đây là tiền do bị cáo bán ma túy mà có. Tuy nhiên quá trình điều tra, không xác định được người mua ma túy của bị cáo là ai, ở đâu. Ngoài lời khai của bị cáo thì không còn chứng cứ nào khác chứng minh đây là tiền bị cáo bán ma túy mà có nên không có đủ căn cứ để tịch thu số tiền này. Căn cứ vào điểm a, khoản 3 Điều 106 BLTTHS, cần trả lại số tiền này cho bị cáo.
Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đồng thời là hộ nghèo và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo được quyền kháng cáo bản án.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 332, 333 BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng Thị C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Sùng Thị C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 15/4/2022.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy 0,88 gam heroine là vật chứng vụ án Sùng Thị C.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/6/2022 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
Trả lại cho bị cáo Sùng Thị C 250.000đồng (hai trăm lăm mươi nghìn đồng), số tiền này hiện đang được tạm gửi tại tài khoản 3949.0.1072731.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
4. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22.6.2022).
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA (TA tỉnh); - VKSND huyện Mường Nhé; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan ĐT Công an huyện Mường Nhé; - Cơ quan THAHS Công an huyện Mường Nhé; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA.H Mường Nhé; - Bị cáo; Người bào chữa; - THADS huyện Mường Nhé; - Phòng Hành chính Sở Tư pháp; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Phong |