vanban.org

Bản án 22/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 12/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lý Ngọc B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lý Ngọc B 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2021. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Ngọc B phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Ngọc B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM HÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2022/HS-ST
Ngày: 12/4/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Thạch Thị Lan Nhung;

Bà Ngô Thị Luân.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2022/HSST-QĐ ngày 17 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2022/HSST-QĐ ngày 30 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Lý Ngọc B, sinh năm: 1987 tại: tỉnh Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn Y và con bà Cao Thị N; vợ Nguyễn Thanh H (đã ly hôn); bị cáo có 01 người con sinh năm 2010. Nhân thân: Ngày 27/4/2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội trộm cắp tài sản. Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 474/2011/HSST ngày 14/11/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt Lý Ngọc B 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 78/2015/HSST ngày 11/11/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt Lý Ngọc B 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2018/HSST ngày 22/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt Lý Ngọc B 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 11/11/2021, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Lâm Hà “có mặt”.

- Bị hại: Anh Trần Quang H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “có mặt”.

- Người làm chứng: Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 22/7/2021, Lý Ngọc B điều khiển xe mô tô hiệu Dream (không rõ biển kiểm soát) đi từ thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà về thôn Prteing 2, xã Phú Sơn huyện Lâm Hà khi đi ngang qua thôn Đạ Ty, xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà thì trời mưa nên B đi vào nhà kho của Công ty B Nghi để trú mưa. Khi B vào thấy cửa nhà kho đóng, quan sát xung quanh không thấy có người trông coi nên đã nảy sinh ý định phá khóa để vào trong nhà kho để tìm kiếm tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. B đi đến xe mô tô lấy một mỏ lết rồi đi đến vị trí ổ khóa cửa, B đập một cái làm ổ khóa cửa nhà kho bung ra. Sau đó B mở cửa dùng đèn pin điện thoại soi sáng và đi vào trong nhà kho tìm kiếm đồ đạc thì phát hiện một chiếc xe mô tô để tại đây. Sau khi quan sát không thấy tài sản nào khác có giá trị thì B đi vòng ra phía sau dọc bên hông nhà kho B thấy một căn phòng để gỗ cửa không khóa, bên trong phòng có một cặp lục bình và một tấm gỗ. Lúc này B đi ra ngoài rồi điều khiển xe của B tới và dựng xe ở trước cửa phòng. Sau đó B lấy cặp lục bình bỏ lên yên xe chằng dây thun rồi chở đến nhà của Đỗ Văn T ở thôn Đạ Ty, xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà. Khi đến nơi B gặp T và nói cho B gửi cặp lục bình thì T đồng ý. B điều khiển xe chạy thẳng ra phía sau nhà kho của T và cất cặp lục bình tại đây. Sau đó B tiếp tục điều khiển xe đi tới nhà kho của Công ty B Nghi để lấy trộm tài sản. Khi B đi đến nghĩa trang thôn Đạ Ty, xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà thì xe mô tô bị hỏng nên B để xe ở nghĩa trang và đi bộ đến nhà kho của Công ty B Nghi. Đến nhà kho thì B đi đến vị trí để chiếc xe mô tô có chìa khóa cắm sẵn trên xe. Sau đó B điều khiển chiếc xe này đi ra phía sau phòng để gỗ và lấy tấm gỗ có kích thước dài khoảng 02m, dày khoảng 10cm để lên yên xe rồi chở đến nhà kho của T cất giấu. Sau đó B điều khiển chiếc xe chiếm đoạt được đi đến nghĩa trang thôn Đạ Ty, xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng để cất giấu chiếc xe nhằm tránh bị phát hiện và dắt chiếc xe Dream của B về nhà mình ở thôn Prteing 2, xã Phú Sơn, huyện Lâm Hà. Khoảng nửa tháng sau B đi đến nghĩa trang để tìm chiếc xe đã lấy trộm tại nhà kho của Công ty B Nghi nhưng không tìm thấy.

Tối ngày 23/7/2021, Lý Ngọc B tiếp tục đi đến nhà kho của Công ty B Nghi ở thôn Đạ Ty, xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà để lấy trộm tài sản. Tại phòng kho ở giữa bị khóa nên B lấy mỏ lết đập làm bung ổ khóa, khi vào trong B lấy trộm tấm gỗ có kích thước dài khoảng 02m, dày khoảng 10cm nhưng do tấm gỗ to và nặng nên B không lấy được để tại vườn cà phê. Sau đó B lấy 03 bình xịt thuốc sâu, một bình B cất giấu tại nghĩa trang thôn Đạ Ty, xã Đạ Đờn, hai bình còn lại trên đường đi B bán cho một người đi đường không rõ nhân thân lai lịch ở gần chân dốc xã Phi Tô được số tiền 200.000đ, số tiền này B mua ma túy sử dụng.

Vật chứng thu giữ: 01 tấm gỗ có kích thước 171cm x 47cm x 12.5cm và 01 cặp lục bình có kích thước 35cm x 113cm.

Tại bản kết luận 97/KL-HĐĐG ngày 17/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lâm Hà kết luận: 01 tấm gỗ có kích thước 171cm x 47cm x 12.5cm và 01 cặp lục bình có kích thước 35cm x 113cm, 01 chiếc xe mô tô Yamaha Jupiter biển số 49V2- 4690 có tổng trị giá tài sản là 10.850.400đ.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Quang H yêu cầu Lý Ngọc B phải bồi thường số tiền 30.000.000đ.

Đối với hành vi của Đỗ Văn T cho Lý Ngọc B gửi gỗ không biết được đó là tài sản do phạm tội mà có nên không phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đối với các tài sản gồm 01 dàn máy xịt nước nhãn hiệu Amax Goil màu đỏ xám; 01 mô tơ bơm nước không rõ nhãn hiệu; 01 máy khoan cầm tay nhãn hiệu Ryobi màu vàng; 01 đội xe hiệu Colorado; 03 bình bơm thuốc sâu hiệu Thor màu vàng, màu xanh và màu đỏ; 01 bộ phụ tùng sửa xe; 01 can xăng 05 lít; 01 mặt bàn bằng gỗ dài 180x 74cm x 10cm; 01 chân bàn bằng gỗ dài 140cm, rộng 30cm, cao 30cm. Hội đồng định giá không xác định giá trị tài sản do không đủ cơ sở để định giá nên không có căn cứ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 17/02/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Lý Ngọc B về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lý Ngọc B về tội: “Trộm cắp tài sản”; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Ngọc B từ 03 đến 04 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc Lý Ngọc B phải bồi thường cho anh Trần Quang H số tiền 8.400.000đ.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lâm Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 19 giờ ngày 22/7/2021, Lý Ngọc B điều khiển xe mô tô đi từ thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà về thôn Prteing 2, xã Phú Sơn huyện Lâm Hà khi đi ngang qua thôn Đạ Ty, xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà thì trời mưa nên B đi vào nhà kho của Công ty B Nghi để trú mưa. Tại đây, bị cáo quan sát xung quanh không thấy có người trông coi nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, bị cáo đã lấy một mỏ lết phá khóa cửa nhà vào lấy trộm 01 tấm gỗ có kích thước 171cm x 47cm x 12.5cm; 01 cặp lục bình có kích thước 35cm x 113cm và 01 chiếc xe mô tô Yamaha Jupiter biển số 49V2- 4690 đem đi cất giấu để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng.

Tại bản kết luận 97/KL-HĐĐG ngày 17/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lâm Hà kết luận: 01 tấm gỗ có kích thước 171cm x 47cm x 12.5cm và 01 cặp lục bình có kích thước 35cm x 113cm, 01 chiếc xe mô tô Yamaha Jupiter biển số 49V2- 4690 mà bị cáo Lý Ngọc B chiếm đoạt có tổng trị giá tài sản là 10.850.400đ.

Xét lời khai phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng truy tố, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lý Ngọc B phạm tội: “Trộm cắp tài sản” như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, với mục đích vụ lợi, bị cáo lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của chủ sở hữu về tài sản đã lén lút chiếm đoạt mang đi cấu giấu nhằm mục đích bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã xâm phạm đến đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật B vệ, mà còn gây hoang mang lo lắng, nghi kỵ trong quần chúng nhân dân và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Xét nhân thân bị cáo là người xấu đã nhiều lần bị kết án: Ngày 27/4/2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội trộm cắp tài sản; ngày 14/11/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 27 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; 11/11/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và ngày 22/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo không chịu tu chí làm ăn lương thiện mà lại tiếp tục phạm tội và lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội và đúng pháp luật. Vì vậy, cần chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo sống biết tuân thủ pháp luật và đấu tranh phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi xem xét quyết định hình phạt cần xem xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Đối với hành vi của Đỗ Văn T cho Lý Ngọc B gửi gỗ không biết được đó là tài sản do phạm tội mà có nên không phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay người bị hại anh Trần Quang H cho biết anh có gửi tài sản tại nhà kho của Công ty B Nghi, vào ngày 22/72021 và ngày 23/7/2021 anh bị mất trộm tài sản gồm: 01 tấm gỗ có kích thước 171cm x 47cm x 12.5cm; 01 cặp lục bình có kích thước 35cm x 113cm và 01 chiếc xe mô tô Yamaha Jupiter biển số 49V2- 4690; 01 dàn máy xịt nước nhãn hiệu Amax Goil màu đỏ xám; 01 mô tơ bơm nước không rõ nhãn hiệu; 01 máy khoan cầm tay nhãn hiệu Ryobi màu vàng; 01 đội xe hiệu Colorado; 03 bình bơm thuốc sâu hiệu Thor màu vàng, màu xanh và màu đỏ; 01 bộ phụ tùng sửa xe; 01 can xăng 05 lít; 01 mặt bàn bằng gỗ dài 180x 74cm x 10cm; 01 chân bàn bằng gỗ dài 140cm, rộng 30cm, cao 30cm.

Quá trình điều tra cơ quan điều tra, Cơ quan điều tra chỉ chứng minh được bị cáo chiếm đoạt của anh gồm: 01 tấm gỗ có kích thước 171cm x 47cm x 12.5cm; 01 cặp lục bình có kích thước 35cm x 113cm và 01 chiếc xe mô tô Yamaha Jupiter biển số 49V2- 4690. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại cho anh 01 tấm gỗ có kích thước 171cm x 47cm x 12.5cm; 01 cặp lục bình có kích thước 35cm x 113cm thì anh không có ý kiến gì; riêng đối với chiếc xe mô tô Yamaha Jupiter biển số 49V2- 4690 sau khi bị cáo chiếm đoạt đem đến nghĩa địa cất giấu bị mất hiện nay chưa thu hồi được. Tại phiên tòa hôm nay anh H yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh chiếc xe theo giá mà Hội đồng định giá huyện Lâm Hà đã định là 8.400.000đ, qua yêu cầu bồi thường của anh H thì bị cáo đồng ý nên ghi nhận.

Đối với tài sản anh H khai bị mất gồm: 01 dàn máy xịt nước nhãn hiệu Amax Goil màu đỏ xám; 01 mô tơ bơm nước không rõ nhãn hiệu; 01 máy khoan cầm tay nhãn hiệu Ryobi màu vàng; 01 đội xe hiệu Colorado; 03 bình bơm thuốc sâu hiệu Thor màu vàng, màu xanh và màu đỏ; 01 bộ phụ tùng sửa xe; 01 can xăng 05 lít; 01 mặt bàn bằng gỗ dài 180x 74cm x 10cm; 01 chân bàn bằng gỗ dài 140cm, rộng 30cm, cao 30cm thì tại phiên tòa anh H không có yêu cầu hay ý kiến gì; vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Về án phí dân sự Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người nghiện ma túy và không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lý Ngọc B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lý Ngọc B 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2021.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Lý Ngọc B phải bồi thường cho anh Trần Quang H số tiền là 8.400.000đ (Tám triệu bốn trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lý Ngọc B phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/4/2022) bị cáo, bị hại có quyền kháng để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Lâm Đồng (02);

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;

- VKS, CA huyện Lâm Hà;

- Thi hành án huyện Lâm Hà;

- Bị cáo; người tham gia tố tụng;

- Lưu HS - BP.

Trần Minh Huấn THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Huấn Ngô Thị Luân Thạch Thị Lan Nhung

Cỡ chữ