- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công Th phạm tội "trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HSST Ngày: 19/05/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Long.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Y Yâo BKrông
2. Ông Y Nik Ê Ban.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Thư ký tòa án, Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: ông Cao Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 05 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 04 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2022/ QĐXXST - HS ngày 28 tháng 04 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Công Th; sinh năm 1992 tại huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: Thôn E, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Công H, sinh năm 1962; con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1958. Có vợ là Vũ Thị X, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2013;
Tiền sự: Không
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2019/HS-ST ngày 24/05/2019 bị TAND huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/04/2021.
Nhân thân: Ngày 10/11/2010 bị Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại bản án Hình sự sơ thẩm số 35/2010/HSST, ngày 10/11/2010 (đã chấp hành xong);
Ngày 13/6/2013 bị Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại bản án Hình sự sơ thẩm số 18/2013/HSST, ngày 13/6/2013 (đã chấp hành xong);
Ngày 31/3/2022 bị Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2022/HS-ST ngày 31/3/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/11/2021, hiện đang bị tạm giam (trong vụ án hình sự thụ lý số 05/2022/TLST-HS ngày 01/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk).
- Người bị hại: anh Trần Kim C, sinh năm 2002. Trú tại: Tổ dân phố M, thị trấn K, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (có đơn xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Trần Thị Thùy T, sinh năm 1996. Trú tại: thôn B, xã T, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
2. anh Trần Văn H, sinh năm 1995. Trú tại: thôn B, thị trấn K, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Vào tối ngày 16/11/2021, Nguyễn Công Th đến thuê phòng nghỉ tại Nhà nghỉ X thuộc Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 17/11/2021, Th nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên đã rời nhà nghĩ đi tìm kiếm nhà dân sở hở đột nhập trộm cắp tài sản, khi đến Tổ dân phố M, thị trấn K, huyện E thì Th quan sát thấy một ngôi nhà cấp 4 không khóa cổng chính và nghỉ rằng không có ai ở nhà nên đã tìm kiếm nơi cạy phá, đột nhập vào nhà. Th đi vòng ra phía sau nhà, quan sát thấy một đoạn tường gạch bị mục, nên Th dùng tay gỡ gạch tạo ra một lỗ có kích thước 50cm x 35 cm và chui theo lỗ gạch trên tường đột nhập vào đến phòng khách rồi đi vào phòng ngủ. Th quan sát thấy anh Trần Kim C đang ngủ trong phòng và có 02 điện thoại di động đang sạc pin (01 điện thoại nhãn hiệu iPhone XS Max màu vàng và 01 điện thoại hiệu Nokia, màn hình đen, trắng, loại dùng phím bấm, màu đen). Th lấy trộm 02 điện thoại bỏ vào túi quần và tiếp tục tìm kiếm xung quanh phòng ngủ phát hiện 01 áo khoác nam, 01 mũ kết lưỡi trai (nhãn hiệu Nón Sơn, màu trắng) đang treo trên tường. Th lấy áo khoác, mũ kết rồi di chuyển ra phòng khách. Tại phòng khách Th tiếp tục lấy trộm 02 bật lửa nhãn hiệu Zippo để trên bàn uống nước rồi mở cửa phía sau phòng bếp tẩu thoát. Trên đường tẩu thoát Th vứt lại áo khoác của mình đang mặc trên người, mặc áo khoác vừa trộm được và di chuyển về lại nhà nghỉ X ngủ đến sáng. Trong ngày 17/11/2021, Th di chuyển theo hướng đi về thành phố B để tìm nơi tiêu thụ tài sản trộm cắp được. Trên đường đi Th vứt điện thoại di động nhãn hiệu Nokia tại khu vực sông gần cầu Km 50 Quốc lộ 26.
Vật chứng thu giữ được: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS Max màu vàng; 01 (một) áo khoác nam, màu đen; 01 (một) mũ kết lưỡi trai, màu trắng, nhãn hiệu nón Sơn; 02 (hai) bật lửa nhãn hiệu Zippo.
Vật chứng không thu giữ được: 01 điện thoại hiệu Nokia, màn hình đen, trắng, loại dùng phím bấm, màu đen
Tại bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐ 992 ngày 19/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ea Kar, xác định tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 12.700.000 đồng (mười hai triệu bảy trăm nghìn đồng)
Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS, ngày 15/4/2022 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Nguyễn Công Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Công Th khai nhận: Do muốn có tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân nên vào khoảng 03 giờ ngày 17 tháng 11 năm 2021 tại Tổ dân phố M, thị trấn K, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Công Th đã có hành vi lén lút trộm cắp của anh Trần Kim C, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS Max; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 áo khoác phao nam, màu đen; 01 mũ kết lưỡi trai, màu trắng nhãn hiệu Nón Sơn; 02 bật lửa nhãn hiệu Zippo. Tổng tài sản thiệt hại qua định giá là 12.700.000 đồng (Mười hai triệu bảy trăm nghìn đồng).
Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi của bị cáo. Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, r, s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 15đến 18 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ Luật hình sự để tổng hợp hình phạt với bản án số 07/2022/HS-ST, ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk xử phạt bị cáo 1 năm 09 tháng tù để buộc bị cáo phải hấp hành hình phạt chung của cả 2 bản án. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 18/11/2021.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Về vật chứng vụ án: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Kim C.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màn hình trắng đen, quá trình điều tra không thu giữ được và người bị hại cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đề cập giải quyết.
- Về phần dân sự của vụ án: Người bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề cập để giải quyết.
Phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì thêm, Tại phần nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan điều tra Công an huyện Ea Kar, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ ngày 17 tháng 11 năm 2021, Nguyễn Công Th đã có hành vi lén lút trộm cắp của anh Trần Kim C 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS Max; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 áo khoác phao nam, màu đen; 01 mũ kết lưỡi trai; 02 bật lửa nhãn hiệu Zippo. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 12.700.000 đồng. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Công Th đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức được rằng tài sản của công dân luôn được pháp luật bảo vệ. Vì muốn có tiền để sử dụng mục đích cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản của người bị hại mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy xét thấy cần thiết phải xử lý nghiêm khắc, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội sau này.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2022 bị cáo đã 4 lần bị Tòa án nhân dân huyện M’ Đrắk kết án về tội trộm cắp tài sản, trong đó ngày 24/5/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h, Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội đã đã thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, trong quá trình điều tra các vụ án trộm cắp xảy ra tại địa bàn huyện M’Đrăk thì bị cáo đã tự nguyện khai báo về hành vi trộm cắp tài sản của anh Trần Kim C. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, r, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được xem xét trong khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2022/HSST, ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk xử phạt bị cáo Nguyễn Công Th 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội trộm cắp tài sản, bản án đã có hiệu lực pháp luật. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án.
Các biện pháp tư pháp:
- Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS Max; 01 áo khoác phao nam, màu đen; 01 mũ kết lưỡi trai, màu trắng nhãn hiệu Nón Sơn; 02 bật lửa nhãn hiệu Zippo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar đã trả cho anh Trần Kim C là chủ sở hữu là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màn hình trắng đen, quá trình điều tra không thu giữ được và người bị hại cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đề cập giải quyết.
- Về phần dân sự của vụ án: Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên qua không ai yêu cầu bồi thường nên không đề cập để giải quyết.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận toàn bộ đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, buộc bị cáo Nguyễn Công Th phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, r, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công Th 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Bộ Luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 01(một) năm 09 (chín) tháng tù của bản án số 07/2022/HS-ST, ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk. Buộc bị cáo Nguyễn Công Th phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là 03 (ba) năm (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/11/2021.
2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Về vật chứng vụ án:
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar đã trả với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS Max; 01 áo khoác phao nam, màu đen; 01 mũ kết lưỡi trai, màu trắng nhãn hiệu Nón Sơn; 02 bật lửa nhãn hiệu Zippo (như biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật) cho anh Trần Kim C là chủ sở hữu.
- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màn hình trắng đen, quá trình điều tra không thu giữ được và người bị hại cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đề cập giải quyết.
- Về phần dân sự của vụ án: Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không đề cập để giải quyết.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo Nguyễn Công Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Vụ giám đốc Kt1- TANDTC - VKSND tỉnh Đăk Lăk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Ea Kar; - T.H.A.H.S CA huyện Ea Kar; - CQ CSĐT CA huyện Ea Kar; - Chi cục THADS huyện Ea Kar; - Bị cáo; Đương sự; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Long |