- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HS-ST Ngày 25-4-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phƣơng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ba
Bà Nguyễn Thị Kim Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Minh Quân- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phƣơng Ngọc- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Phan Thị T, sinh năm 1982 tại Tiền Giang, số chứng minh nhân dân 211645783.
Nơi cư trú: ấp Hòa L, xã Bình Nh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Ch (chết) và bà Nguyễn Thị H sinh năm 1963; chồng: Nguyễn Hiếu Th sinh năm 1973, con 04 người, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1950; (có mặt)
Nơi cư trú: ấp Hòa L, xã Bình N, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền trả nợ nên bị cáo có ý định trộm con bò sữa lai, màu lông xám vàng đậm nặng khoảng 130 ký của bà Nguyễn Thị Á (chị chồng của bị cáo). Thực hiện ý định vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 03/6/2021 bị cáo hẹn chị Lê Thị Thu H ngụ ở ấp Bình Đ, xã Thạnh Nh, huyện Gò Công Tây, đến gần nhà bị cáo để giao con bò trừ số nợ 17.000.000 đồng. Chị H có nhờ Lê Duy Lh, Lê Thị Kim Ng (chồng và con chị H) cùng Huỳnh Thanh Ph (cháu ruột) đi nhận bò. Khi đến bị cáo kêu L đứng cách nhà 100m còn bị cáo vào chuồng bò dẫn con bò sữa lai màu lông xám ra giao cho anh L dẫn về nhà chị H, sau đó bị phát hiện.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-ĐGTS ngày 23/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chợ Gạo kết luận:
“ 01 (một0 bò cái 23 tháng tuổi, trọng lượng 130 kg, loại bò sữa lai, màu lông xám vàng đậm, phần trán, đuôi và dưới bụng có bớt lông màu trắng đục, trị giá 19.500.000 đồng”.
Bản cáo trạng số 07/CT-VKSCG ngày 04/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang truy tố hành vi của bị cáo Phan Thị T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phan Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
* Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, n, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Phan Thị T từ 01 – 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “trộm cắp tài sản”.
* Trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Thị Á đã nhận lại con bò sữa lai, không yêu cầu bồi thường gì khác. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa bị cáo Phan Thị T đã khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ ngày 03/6/2021 bị cáo lấy trộm 01 con bò sữa lai nặng 130 kg của bà Nguyễn Thị Á để giao cho chị Lê Thị Thu H để trừ nợ. Con bò có giá trị 19.500.000 đồng.
+ Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì:
“ 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Như vậy hành vi trộm cắp của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc, nhưng với bản chất chai lười lao động, chỉ vì muốn có tiền trả nợ mà không phải bỏ công sức lao động, nên bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện tội phạm.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm bất hợp pháp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Hành vi nêu trên của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức án thật nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo mới phạm tôi lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi phạm tội bị cáo có thai. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo, mà chỉ cần giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội.
Đối với Lê Thị Thu H, Lê Duy L, Lê Thị Kim Ng, Huỳnh Thanh Ph không biết tài sản do trộm mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự.
Lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và hướng giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có ý kiến yêu cầu bồi thường. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phan Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
* Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm n, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Phan Thị T 01 (một) năm tù, nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phan Thị T cho Ủy ban nhân dân xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục, trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
+ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Phan Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
+ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo; - Cơ quan Điều tra- Công an huyện Chợ Gạo; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo; - Nhà tạm giữ- Công an huyện Chợ Gạo; - Bị cáo, bị hại, NLQ; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Phƣơng |