- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYEN THANH T- CÔ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã B M. Sửa bản án sơ thẩm số: 42/2020/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã B M về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HS-PT Ngày: 13 - 5 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kiều Duyên
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thành Tân
Ông Nguyễn Hữu Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Bích Trâm – Thƣ ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 35/2022/TLPT-HS ngày 14 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo Ng Th T, Ng Th T1 do có kháng nghị của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2020/HS-ST ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
- Các bị cáo bị kháng nghị:
1. Họ và tên: Ng Th T (tên gọi khác Tài củn), sinh năm 1998; tại Vĩnh Long.
Nơi cƣ trú: tổ 10, ấp M A, xã M H, thị xã B M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ng V A và bà L Th D; chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/5/2020 đến ngày 05/10/2020 đƣợc trả tự do, có mặt tại phiên tòa.
2. Bị cáo Ng Th T1 (tên gọi khác M D), sinh năm 1993; tại Vĩnh Long.
Nơi cƣ trú: ấp M A, xã M H, thị xã B M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ng V Tr và bà Đ Th Tr; có vợ Ng Th Ph L và 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/5/2020 đến ngày 05/10/2020 đƣợc trả tự do, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Ng Th T là: bà Nguyễn Thị Hồng Thơ – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nƣớc tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)
Ngoài ra còn có các bị cáo Ph V S; Đ Th Nh, Ng M Ch, Ng V H, Ph H Th, B D T, B M Kh; ngƣời đại diện hợp pháp của bị cáo Nh ông Đ V Ƣ, bà Ngn K Ph; ngƣời đại diện hợp pháp của bị cáo Ch ông Ng Th Ng, bà K Th H; ngƣời đại diện hợp pháp của bị cáo H là ông Ng V Đ, bà Ng Th T; ngƣời đại diện hợp pháp của bị cáo T là ông B V Ph, bà L Th Ng; ngƣời đại diện hợp pháp của bị cáo Th là ông Ph Th T, bà Ng Th K L; ngƣời đại diện hợp pháp của bị cáo Kh là ông B M Ph, bà Ph L B Tr; bị hại Ng V A; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L Th C, bà B Ng Ph, ông PhV Kh không có kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào dịp lễ Ok Om Bok năm 2019 của ngƣời Khmer, Đ Th Nh, Ng M Ch, Ph H Th, B M Kh và B D T đến chùa Khmer chơi thì bị nhóm của Ph V T chặn đánh và đập xe, sau khi sự việc xảy ra Nh có kể lại cho Ng Th T1 (T Củn) nghe.
Đến khoảng hơn 18 giờ ngày 17/11/2019, Ng Th T1 cùng với Ph V S, Ng Th T2 (M D), Ng V C (K), H Ch C (B T), Ng Th V, Đ Th Nh và một số ngƣời khác uống bia tại quán bà Mƣời Ghẹ ở xã M H, thị xã B M. Sau khi nghỉ uống bia thì Ng Th T1 rủ PhV S, Ng Th T1, Ng V C, H Ch C, Ng Th V, Đ Th Nh đi tìm Ph V T để nói chuyện về việc đập xe của B M Kh thì tất cả đồng ý nên Nh chạy xe chở Th T1; Th T2 chạy xe chở S; Ng V C, H Ch C và V mỗi ngƣời chạy xe một mình đi tìm T. Do biết em Ng Th Ng D biết nhà của T nên Ng Th T1 gọi điện thoại cho D nhờ chỉ nhà của T thì D đồng ý, khi cả nhóm đi đến quán cà phê (đoạn đƣờng hƣớng vào Công an phƣờng Đ Th) thì Th T1 kêu dừng xe lại rồi Th T1 mƣợn xe của H Ch C chạy đi rƣớc D còn những ngƣời khác ở đợi, sau khi gặp D thì Th T1 chở D quay lại chổ cả nhóm đang đợi rồi Ng Th T1 chở D chạy trƣớc, V chở H Ch C, Nh chạy xe một mình, Th T1 chạy xe chở S, Ng V C chạy xe một mình cùng đi tìm T, khi cả nhóm chạy xe đến ngã ba khu dân cƣ vƣợt lũ Ph L 2 thuộc ấp Ph L 2, xã Đ B, thị xã B M thì D chỉ nhà T ở phía trƣớc nên cả nhóm chạy đi còn D ở lại không đi theo. Cả nhóm chạy đến nhà T theo hƣớng D chỉ, thì Th T1 dừng xe lại ở một ngôi nhà bên trái rồi hỏi ngƣời phụ nữ (không rõ họ tên) thì ngƣời này cho biết nhà của T, cùng thời điểm này bà Ph Th Ú Nh (mẹ của T) thấy nhóm của Th T1 và Th T1 từ hƣớng đối diện đi qua nhà mình nên đến nói T không có ở nhà nên cả nhóm cùng nhau đi về. Th T1 chạy xe chở S đi về đến lề đƣờng nhà văn hóa xã M H nhậu tiếp, Th T1 chở D đi về nhà của D rồi quay lại rƣớc H Ch C cùng với V đi về nhà mình, còn Nh chạy xe về nhà của Nh khi đến nhà của V H A Th thì ghé vào chơi nên gặp T, Ch, Ng V H, Th và Kh nên Nh rủ đến nhà Nh nhậu thì tất cả đồng ý đi đến nhà Nh, khi về nhà thì Nh kể lại cho cả nhóm nghe việc mới đi tìm T để giải quyết vụ đập xe của Kh.
Sau khi nhóm của Th T1 đi về thì T biết việc D dẫn nhóm của Th T1 đi tìm mình nên có nói cho L A D biết, rồi Toàn cùng với Ng V A, Tr T C, Ng Th V, S H Th Qu, L A D, C (chƣa rõ lai lịch), D (chƣa rõ lai lịch) và một số ngƣời khác uống bia ở bãi đất trong khu dân cƣ vƣợt lũ Phù Ly 2, do T không biết chữ nên nhờ D1 nhắn tin trên facebook cho D để hỏi sự việc rồi D1 nhờ D hẹn nhóm của Th T1 đến nhà T để nói chuyện rồi nhậu tiếp, lúc này một số ngƣời bỏ đi về trƣớc, còn T, A, C, V, Qu, C và D. Sau đó D nhắn tin cho Th T1 về việc T hẹn vào nói chuyện thì Th T1 nhắn tin cho Nh với nội dung “mấy thằng nó rủ vô nữa kìa” thì Nh nói lại với Ch, H, Th, Kh và T nghe thì tất cả đồng ý đi cùng Nh tìm T. Lúc này Nh, Ch, H, Th, T và Kh đều biết là đi đánh nhau nên Nh chuẩn bị một cây dùi cui, H lấy một khúc sắt ở nhà của Nh để mang theo. Do không có xe nên Th T1 nhắn tin cho Ch kêu qua nhà chở mình thì Ch chạy xe đến nhà Th T1 rƣớt, T1 chuẩn bị một cái túi bên trong có các con dao, Th T1( Củn) mới điện thoại cho Ng Th T2 về việc T hẹn gặp thì Ng Th T1 đồng ý đi theo, sau đó Ch chạy xe chở Th T1 đi đến nhà Nh thì dừng xe lại rồi Th T1 kêu “ra đi nè” thì lúc này T chạy xe chở Nh cầm theo cây dùi cui, Kh chạy xe chở H cầm khúc sắt và Th đƣợc cầm khúc sắt (không biết ai đƣa) đi theo Th T1, khi đi đến khu dân cƣ xã M H thì Ch chở Th T1 đến chổ Th T2 và S đang nhậu còn những ngƣời khác chạy đến cổng chào ấp M L, xã M H, thị xã B M để đợi, một lúc sau Th T1 chạy xe chở S còn Ch chạy xe chở ThT1 chạy đến cổng chào gặp nhóm Nh, T, H, Th và Kh. Lúc này T chạy xe chở Nh, Kh chạy xe chở H và Th chạy theo phía sau, khi đi đƣợc một đoạn thì xe của Kh hết xăng nên T chạy xe chở Nh kè xe của Kh chở H và Th đến cây xăng đối diện khu công nghiệp Hoàng Quân để đổ xăng còn những ngƣời còn lại chạy trƣớc, sau khi đổ xăng xong T chở Nh, Kh chở H và Th chạy theo những ngƣời đi trƣớc đến khu vƣợt lũ Ph L 2.
Khi chạy đến khu dân cƣ vƣợt lũ Ph L 2 thì Th T1 chở Ph V S chạy vƣợt lên trƣớc, rồi lần lƣợt đến Ch chở NgTh T1, T chở Nh, Kh chở H và Th. Đến nhà của T thì thấy đóng cửa nên Th T1 chở S chạy về phía trƣớc, cùng lúc này nhóm của T cũng đã nghỉ nhậu T cầm chai bia Sài Gòn đỏ chứa xăng cùng với V và Qu đi bộ về trƣớc, A và C khiêng kết bia Sài Gòn đỏ đi theo phía sau, còn D và C đi lấy xe để về nhà. Khi Th T2 (M D) chạy xe đến ngã ba trong khu dân cƣ thuộc tổ 19, ấp Ph L 2, xã Đ B, thị xã B M, tỉnh Vĩnh Long thì Th T1 nhìn thấy T, V và Qu nên dừng xe lại, T cũng thấy Th T1 đậu xe nên cầm chai bia Sài Gòn đỏ có chứa xăng chọi về hƣớng Th T2 nhƣng không trúng ai mà chỉ trúng bánh xe trƣớc rồi T, V và Qu chạy ngƣợc lại về hƣớng A và C đang khiêng kết bia đi ra, C và D cũng chạy về hƣớng A. Lúc này Th T1 (T củn) mở cái túi mang theo ở nhà lấy 01 con dao tự chế cầm trên tay rồi liệng cái túi xuống đƣờng thì Th T2 lấy trong túi của T củn 01 con dao tự chế, S và Ch mỗi ngƣời lấy trong túi của T củn 01 con dao, sau đó Ng Th T cầm dao tự chế chạy trƣớc rƣợt nhóm của T, lần lƣợt đến S cầm dao, Ng Th T cầm dao tự chế, Nh cầm dùi cui, H cầm khúc sắt và Ch cầm dao rƣợt theo phía sau; còn T, Th và Kh ở lại chổ xe đậu giữ xe.
Thấy nhóm của Th T cầm hung khí chạy về hƣớng mình nên T, A, C và Qu lấy vỏ chai bia chọi lại nhóm của Th T1 nhƣng không trúng ai, khi không còn vỏ chai bia nào thì nhóm của T bỏ chạy, lúc chạy T, A, C và Qu vừa chạy vừa lƣợm gạch đá trên đƣờng chọi lại nhóm của Th T1, khi đến trƣớc cửa nhà ông Đ H Â thì T nhặt cục đá chọi trúng đầu gối phải của Th T1 làm chảy máu nên Th T2 kêu S lấy ná thun bắn nhóm của T thì S lấy cái ná thun và viên bi sắt ở túi quần ra rồi cầm nạn thun giƣơng viên bi sắt bắn về hƣớng nhóm của T nhƣng không trúng ai, S tiếp tục dùng ná thun giƣơng viên bi sắt bắn tiếp về hƣớng của nhóm T thì trúng vào mắt phải của A nên ngƣời trong nhóm của T la lên “bắn đui con mắt người ta rồi” thì nhóm của Th T1 bỏ đi về chổ xe đậu rồi cùng với T, Th và Kh đang giữ xe ở đây chạy về nhà, còn A đƣợc ngƣời trong nhóm đƣa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa trung ƣơng Cần Thơ.
Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số: 121/2019/TgT ngày 16/12/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Long kết luận: tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể của Ng V A là 51%.
Tại bản án sơ thẩm số: 42/2020/HSST ngaøy 05/10/2020 của Tòa án nhân dân thị xã B M đã quyết định tuyên bố các bị cáo Ng Th T1, Ng Th T2 phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 65, điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt Ng ThT1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm đƣợc tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 05/10/2020. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 65, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự
Bị cáo Ng Th T2 02 (hai) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm đƣợc tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 05/10/2020. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về tội danh; mức hình phạt đối với các bị cáo khác từ 01 năm tù nhƣng cho hƣởng án treo thời gian thử thách là 02 năm tình từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 05/10/2022 đến 02 năm tù; tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 19/10/2020, Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh ra Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKSBM nội dung: kháng nghị một phần Bản án sơ thẩm số 42/2020/HSST ngày 05/10/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long về hình phạt đã tuyên đối với bị cáo Ng Th T1 và Ng Th T2. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm theo hƣớng không cho bị cáo Ng Th T1 và Ng Th T2 hƣởng án treo.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 12/2021/HS-PT ngày 02 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng nghị của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã B M. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 42/2020/HSST ngày 05/10/2020 của Tòa án nhân dân thị xã B M.
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 58; Điều 65, điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ng Th T1 (Tài củn) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, về tội “Cố ý gây thƣơng tích”. Thời gian thử thách đƣợc tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 05/10/2020.
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 58; Điều 65; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ng Th T2 (M D) 02 (hai) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, về tội “Cố ý gây thƣơng tích”. Thời gian thử thách đƣợc tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 05/10/2020.
Giao các bị cáo Ng Th T1, Ng Th T2, cho Ủy ban nhân dân xã M H, thị xã B M, tỉnh Vĩnh Long để giám sát, giáo dục.
Ngày 29 tháng 11 năm 2021 Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 296/QD0-VC3-V1 với nội dung: kháng nghị hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2020/HS-ST ngày 05/10/2020 của Tòa án nhân dân thị xã B M và Bản án hình sự phúc thẩm số 12/2021/HS-PT ngày 02/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long để xét xử lại đối với hai bị cáo Ng Th T1, Ng Th T2 theo hƣớng không cho hai bị cáo hƣởng án treo.
Tại Quyết định số 02/2022/HS-GĐT ngày 18 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ Điều 382, khoản 3 Điều 388; Điều 391, Điều 395 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm số 296/QĐ-VC3-V1 ngày 19/11/2021 của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hủy một phần bản án hình sự phúc thẩm số 12/2021/HS-PT ngày 02 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về phần hình phạt đối với Ng Th T1, Ng Th T2 để xét xử phúc thẩm lại.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long để xét xử phúc thẩm lại theo quy định pháp luật.
Các quyết định khác của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên không bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm tiếp tục có hiệu lực pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày: các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ án sơ thẩm đã xét xử. Xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm: vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng nghị. Đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã B M. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Sửa bản án 42/2020/HSST ngày 05/10/2020 của Tòa án nhân dân thị xã B M về hình phạt. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Ng Th T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 04/5/2020 đến ngày 05/10/2020. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ng Th T2 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 04/5/2020 đến ngày 05/10/2020. Các bị cáo không phải chịu án án phí phúc thẩm.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Th T1 trình bày: thống nhất với tội danh cấp sơ thẩm đã xét xử. Mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo là nghiêm khắc, đề nghị cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo vì bị cáo không có sử dụng mã tấu nhƣ án sơ thẩm nhận định mà bị cáo chỉ dùng dao, bị cáo không trực tiếp gây thƣơng tích cho bị hại, bị cáo phạm tội với đồng phạm giản đơn, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, thành khẩn khai báo, đã bồi thƣờng toàn bộ cho bị hại, bị cáo lại bị khuyết tật nặng, bị cáo phạm tội lần đầu, có nơi cƣ trú rõ ràng, có ông ngoại có công cách mạng, vị đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là làm xấu hơn tình trạng của bị cáo. Đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng này và đề nghị cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo đƣợc hƣởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bình Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo, lời khai của ngƣời làm chứng, cùng kết luận giám định tỉ lệ thƣơng tích đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Ng Th T1 và bị cáo Ng Th T1 đã chuẩn bị hung khí đi đánh nhau với nhóm của Ph V T, Ng V A, Ng Th V, S H Th Qu. Kết quả nhóm của T1 là bị cáo PhV S đã dùng ná thun bắn vào mắt của Ng V A gây thƣơng tích 51%. Do đó, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Ng Th T1 (Tài Củn) và Ng Th T2 phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã B M kháng nghị theo hƣớng không cho các bị cáo hƣởng án treo là có căn cứ.
Trong vụ án này Ng Th T1 (Củn) tuy bị khuyết tật, nhƣng rất tích cực và giữ vai trò chính trong vụ án, chính Th T2 là ngƣời rủ rê các đồng phạm khác đi tìm nhóm của PhV T để nói chuyện, chính Th T1 chuẩn bị hung khí 4 con dao cho các bị cáo khác sử dụng. Bị cáo Ng Th T2 mặc dù không mâu thuẫn gì với nhóm bị hại, nhƣng cũng rất tích cực truy đuổi quyết liệt nhóm của bị hại và là ngƣời kêu bị cáo Ph V S dùng ná thun bắn vào nhóm của bị hại gây thƣơng tích cho bị hại A 51%, thể hiện bản chất côn đồ của bị cáo Th T1. Nhƣ vậy, đối chiếu với khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì 02 bị cáo Thành Tài và Thanh Tài không đủ điều kiện đƣợc hƣởng án treo, việc cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt cho các bị cáo ở khung hình phạt liền kề và cho các bị cáo hƣởng án treo là chƣa đúng quy định pháp luật, không đảm bảo việc răn đe giáo dục các bị cáo.
Tại phiên tòa vị đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; tuy nhiên, tại kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh không đề nghị áp dụng tình tiết này, cho nên tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị áp dụng là làm xấu hơn tình trạng của bị cáo. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm là chƣa xem xét hết các tình tiết tăng nặng để quyết định hình phạt một cách tƣơng xứng với hành vi của bị cáo.
Lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
Lời bào chữa của trợ giúp viên bào chữa cho bị cáo Th T1 là có căn cứ một phần.
Về án phí hình sự phúc thẩm: do sửa án sơ thẩm, nên các bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã B M. Sửa bản án sơ thẩm số: 42/2020/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã B M về phần hình phạt.
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Ng Th T1 (Tài Củn) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thƣơng tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 04/5/2020 đến ngày 05/10/2020
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ng Th T2 (M D) 02 (hai) năm tù, về “Cố ý gây thƣơng tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 04/5/2020 đến ngày 05/10/2020.
Án phí: các bị cáo không phải nộp án phí phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC: 01; - TANDCC: 01; - VKSNDCC: 01; - VKSND TVL: 01; - TAND+VKSND TXBM: 02; - CQTHADS TXBM: 01; - CQTHAHS TXBM: 01; - TG: 01; BC: 02; - P.HỒ SƠ-CAVL: 01 - STP: 01; - UBND, CA xã MH: 01; - TNV + PKTNV: 02; - Lƣu: 04. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Huỳnh Thị Kiều Duyên |