vanban.org

Bản án 22/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Kim P đối với bị đơn ông Lƣu Quốc H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Kim P đƣợc ly hôn với ông Lƣu Quốc H. Về con chung: Giao con chung Lƣu Gia P1, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2014 cho bà Phan Thị Kim P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "PHAN THI KIM P- LUU QUOC H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Kim P đối với bị đơn ông Lƣu Quốc H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 22/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09-5-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con.

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N THÀNH PHỐ THUẬN AN, T NH B NH D NG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thiện;

Bà Trần Ngọc Phƣơng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 603/2021/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2021 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim P, sinh năm 1996; Nơi thƣờng trú: ấp N, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nơi tạm trú: số 26/4, khu phố T, phƣờng V, thành phố A, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lƣu Quốc H, sinh năm 1981; nơi thƣờng trú: số 033, tầng 1, Chung cƣ B1, Phƣờng K, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi tạm trú: số 26/4, khu phố T, phƣờng V, thành phố A, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ N:

Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 11 năm 2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phan Thị Kim P trình bày:

Bà P và ông H tự nguyện tìm hiểu tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phƣờng K, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 100, quyển số 01/2014, ngày 12 tháng 8 năm 2014.

Sau khi kết hôn, bà P và ông H sống hạnh phúc với nhau. Tuy nhiên sau một thời gian chung sống vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là ông H không lo tìm kiếm một công việc làm ổn định để tự chăm lo cho bản thân và gia đình, một mình bà P phải tự đi làm lo cuộc sống cho gia đình và con nhỏ. Bà P đã nhiều lần khuyên ông H tìm kiếm công việc nhƣng ông H không nghe ngƣợc lại còn la mắng bà P vô cớ. Từ đó, bà P và ông H thƣờng hay to tiếng và cuộc sống gia đình ngày càng căng thẳng. Bà P và ông H sống ly thân và không sống chung một nhà từ tháng 02 năm 2021 cho đến nay. Nhận thấy, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà P khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết đƣợc ly hôn với ông H.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà P và ông H có một con chung là Lƣu Gia P1, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2014. Bà P yêu cầu đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con chung.

Về cấp dƣỡng nuôi con: Bà P không yêu cầu ông H cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà P và ông H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án không tống đạt đƣợc các văn bản tố tụng cho bị đơn mặc dù bị đơn có nhà nhƣng bị đơn từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Theo kết quả xác minh tại Công an phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng: Ông H có đăng ký tạm trú tại số 26/4, khu phố T, phƣờng V, thành phố A, tỉnh Bình Dƣơng. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông H theo hình thức niêm yết công khai tại nơi thƣờng trú của ông H, Ủy ban nhân dân phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng và trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng nhƣng ông H không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà P và cũng không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Bà P có đơn xét xử vắng mặt và bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của những ngƣời tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thƣ ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; bị đơn chƣa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: bà P đƣợc ly hôn với ông H; về con chung: giao con chung tên Lƣu Gia P1, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2014 cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng và giáo dục. Về cấp dƣỡng nuôi con: bà P không yêu cầu ông H cấp dƣỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: các đƣơng sự tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng nhận định:

[2] Về tố tụng:

[2.1] Bà P khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông H; ông H có thƣờng trú tại số số 26/4, khu phố T, phƣờng V, thành phố A, tỉnh Bình Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.2] Đối với bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử nhƣng vẫn vắng mặt, cố tình không đến Tòa án làm việc là chƣa thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

[2.3] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xét xử vắng mặt bà P và ông H theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông H kết hôn vào ngày 12 tháng 8 năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phƣờng 10, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là hôn nhân hợp pháp.

[3.2] Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù qua xác minh tại địa phƣơng về tình trạng hôn nhân giữa bà P và ông H chính quyền địa phƣơng không nhận thấy mâu thuẫn gì, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, ông H đã đƣợc Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhƣng vẫn cố tình vắng mặt và cũng không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án nên xem nhƣ ông đã từ bỏ quyền trình bày để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và cũng chứng tỏ ông H không có thiện chí mong muốn gia đình đƣợc đoàn tụ. Bà P và ông H sống ly thân và không sống chung một nhà từ tháng 02 năm 2021 cho đến nay và không ai quan tâm đến ai, nhƣ vậy vợ chồng không còn thƣơng yêu, quý trọng, quan tâm lẫn nhau, ngƣời nào chỉ biết bổn phận ngƣời đó, bỏ mặc nhau.

[3.3] Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa bà P và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên việc bà P yêu cầu đƣợc ly hôn với ông H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Bà P và ông H có một con chung tên Lƣu Gia P1, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2014. Bà P yêu cầu đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu ông H cấp dƣỡng nuôi con. Ngoài ra, bà P có công việc và thu nhập ổn định. Do đó, để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành ngƣời con hiếu thảo và công dân có ích cho xã hội nên giao cháu P1 cho bà P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4.1] Về cấp dƣỡng nuôi con: Bà P không yêu cầu ông H cấp dƣỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Các đƣơng sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.

[7] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Kim P đối với bị đơn ông Lƣu Quốc H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Kim P đƣợc ly hôn với ông Lƣu Quốc H.

- Về con chung: Giao con chung Lƣu Gia P1, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2014 cho bà Phan Thị Kim P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng và giáo dục.

- Về cấp dƣỡng: Ông Lƣu Quốc H không cấp dƣỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đƣợc cản trở. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dƣỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hƣởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con thì ngƣời trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ngƣời đó.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm:

Bà Phan Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự, đƣợc khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001841 ngày 22 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Nguyên đơn, bị đơn đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết công khai.

Cỡ chữ