- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị H, - Ông Trần Văn T "ly hôn, con chung""
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Trần Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 22/2022/HNGĐ-ST Ngày: 22 - 8 - 2022 “V/v tranh chấp ly hôn, con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trình Văn Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Thị Minh Phương.
Ông Nguyễn Văn Bỉnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
Ngày 22 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2022 về việc “tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1999; Địa chỉ: Ấp 2, xã T, thị xã K, tỉnh L (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp 2, xã T, thị xã K, tỉnh L (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Vào năm 2017 bà với ông T tìm hiểu, thương yêu nhau và tiến hành tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 2, thị xã Kiến Tường, hôn nhân tự nguyện không ai ép buộc. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc không bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Từ đó, tình cảm vợ chồng rạn nứt và lạnh nhạt nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Hiện nay bà với ông T đã sống ly thân nên không còn điều kiện, khả năng để hàn gắn trở lại xây dựng hạnh phúc gia đình để nuôi dạy con chung. Vì vậy, bà làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T trả tự do cho nhau.
Về con chung: Trong thời gian vợ chồng bà H, ông T chung sống có người con chung tên Trần Nguyễn Gia H1, sinh ngày 21 tháng 5 năm 2018, giới tính nam, hiện nay bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn ông T đồng ý tiếp tục giao cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ông T không cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.
Về tài sản chung: Bà H, ông T xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà H, ông T cam kết không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi nhận được đơn khởi kiện của Bà Nguyễn Thị H, Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án đã ra Thông báo về việc thụ lý vụ án số 41/TB-TLVA ngày 30/6/2022; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 22/TB-TA ngày 11/7/2022 đã tống đạt hợp lệ cho ông T theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố Tụng dân sự nhưng ông T không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời bà H có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1999; Địa chỉ: Ấp 2, xã T, thị xã K, tỉnh L khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Trần Văn T, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp 2, xã T, thị xã K, tỉnh L. Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bà H và ông T theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bà H và ông T hai người đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xử vắng mặt bà H và ông T là phù hợp với quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Thị H với ông Trần Văn T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 2, thị xã Kiến Tường. Đây là hôn nhân hợp pháp nên Tòa án thụ ký giải quyết là phù hợp với với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H xác định không còn tình nghĩa vợ chồng với ông Trần Văn T, không còn điều kiện, khả năng để hàn gắn trở lại xây dựng hạnh phúc gia đình nên yêu cầu được ly hôn với ông T. Xét thấy, tình cảm vợ chồng của bà H với ông T đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thương yêu, quí trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau, hiện tại hai người đã sống ly thân nhau. Vì vậy, cần xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Trong thời gian vợ chồng bà H, ông T chung sống có người con chung tên Trần Nguyễn Gia H1, sinh ngày 21 tháng 5 năm 2018, giới tính nam, hiện nay bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn ông T đồng ý tiếp tục giao cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ông T không cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu. Do đó, cần tiếp tục giao người con chung tên Trần Nguyễn Gia H1 cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Bà H, ông T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà H, ông T cam kết không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với bị đơn ông Trần Văn T khi nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án, ông T có văn bản trình bày ý kiến đồng ý ly hôn với bà H, đồng ý tiếp tục giao con chung tên Trần Nguyễn Gia H1 cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông T không cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.
Về án phí: Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016. Bà Nguyễn Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Trần Văn T.
Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị H ly hôn với ông Trần Văn T.
Về con chung: Tiếp tục giao người con chung tên Trần Nguyễn Gia H1, sinh ngày 21 tháng 5 năm 2018, giới tính nam cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0000712 ngày 23/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho bà H và ông T biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND thị xã; - Chi cục THADS thị xã; - UBND Phường 2, TX Kiến Tường; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trình Văn Út |