- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L - T"
- Tòa quyết gì? Xử cho ly hôn giữa chị Đặng Thị L và anh Bùi Văn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HNGĐ-ST. Ngày 26 tháng 4 năm 2022. V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Chuyết.
2. Ông Cao Trung Kiên.
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2022, tại phòng xét xử tầng 2 trụ sở Chi cục thuế khu vực Nam Ninh, Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2022/TLST-HNGĐ ngày 10/01/2022 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/4/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị L, sinh năm 1981.
Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1976.
Cùng trú tại: Xóm N (xóm 4 cũ), xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: Chị L vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt). Anh T vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn và Bản tự khai, nguyên đơn là chị Đặng Thị L trình bày:
Chị đăng ký kết hôn với anh Bùi Văn T vào ngày 17/11/2000 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, do tính cách, quan điểm sống khác nhau, anh T thường xuyên rượu chè, vô cớ đánh đập chị nên vợ chồng đã nhiều lần sống ly thân. Vì các con chị đã tha thứ cho anh T nhưng anh T không thay đổi tính cách và còn đánh chị nhiều hơn, hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không thành, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể đoàn tụ được với nhau, chị xin được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung gồm: Bùi Thị P, sinh ngày 13/11/2001; Bùi Lan N, sinh ngày 10/01/2008 và Bùi Phương T, sinh ngày 20/12/2015. Chị L nhận nuôi 02 con chung đang ở cùng với chị là Bùi Lan N và Bùi Phương T. Chị không yêu cầu anh anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Con chung là Bùi Thị P đã xây dựng gia đình nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai, ông Bùi Đức N là bố đẻ anh Bùi Văn T cung cấp như sau:
Anh Bùi Văn T đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập của Tòa án và biết được việc chị L có đơn xin ly hôn. Vợ chồng anh T có 03 con chung gồm Bùi Thị P, sinh năm 2001; Bùi Lan N, sinh ngày 10/01/2008 và Bùi Phương T, sinh ngày 20/12/2015. Ông N không biết về nguyên nhân mâu thuẫn, về tài sản, công nợ chung của vợ chồng anh T.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Đặng Thị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt chị L theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh Bùi Văn T vẫn vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Xử cho ly hôn giữa chị Đặng Thị L và anh Bùi Văn T. Về con chung: Giao 02 con chung là Bùi Lan N, sinh ngày 10/01/2008 và Bùi Phương T, sinh ngày 20/12/2015 cho chị L nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con. Về tài sản, công nợ: Không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị L phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
1.1. Chị Đặng Thị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vì vậy việc Tòa án xét xử vắng mặt chị L là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án thực hiện việc tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh Bùi Văn T nhưng anh T không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên tòa vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt anh T là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung
2.1. Về tình cảm: Chị Đặng Thị L đăng ký kết hôn với anh Bùi Văn T vào ngày 17/11/2000 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định, hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi cưới, vợ chồng chị L chung sống hạnh phúc một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn do tính cách, quan điểm sống khác nhau, anh T thường xuyên rượu chè, vô cớ đánh đập chị L nên vợ chồng đã nhiều lần sống ly thân. Hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không thành dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị L đã phát sinh từ lâu, mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu xin ly hôn của chị L là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
2.2. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung gồm: Bùi Thị P, sinh ngày 13/11/2001; Bùi Lan N, sinh ngày 10/01/2008 và Bùi Phương T, sinh ngày 20/12/2015. Để ổn định việc nuôi dưỡng, chăm sóc, học tập của các cháu, HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị L về việc giao 02 con chung Bùi Lan N và Bùi Phương T cho chị L nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, phù hợp với yêu cầu của các con và phù hợp với quy định của pháp luật.
Việc chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
Đối với con chung là Bùi Thị P là trưởng thành, tự lập được, chị L không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét.
2.3. Về tài sản, công nợ: Không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Xử cho ly hôn giữa chị Đặng Thị L và anh Bùi Văn T.
2. Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung gồm Bùi Lan N, sinh ngày 10/01/2008 và Bùi Phương T, sinh ngày 20/12/2015 (hiện nay 02 con chung đang ở với chị L). Chấp nhận sự tự nguyện của chị L về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Bên không nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn.
3. Án phí: Chị Đặng Thị L nộp 300.000 đồng. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001907 ngày 10/01/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Chị Đặng Thị L và anh Bùi Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Trực Ninh; - Chi cục THADS huyện Trực Ninh; - UBND xã T; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Bùi Văn Dũng |