- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Hà Ngọc H xin ly hôn chị Phạm Thị T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho anh Hà Ngọc H được ly hôn chị Phạm Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình xử giao; Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình xử giao; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình xử giao
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HNGĐ-ST Ngày: 27-5-2022 V/v Ly hôn; nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Ngoan; bà Đoàn Thị Duyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Duy - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2022/TLST-HNGĐ ngày 28/3/2022 về “Ly hôn; nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2022/QĐST-HNGĐ ngày 11/5/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Hà Ngọc H, sinh năm 1981
Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình.
2. Bị đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1984
Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn N, xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*) Tại đơn khởi kiện, lời khai và các tài liệu chứng cứ đã xuất trình, thì nguyên đơn là anh Hà Ngọc H trình bày và có yêu cầu cụ thể như sau:
Anh và chị Phạm Thị T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 24/3/2004 tại UBND xã A, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế và tính cách không hòa hợp. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên đến tháng 10/2020 chị T cùng con về nhà bố mẹ đẻ tại xã M sinh sống đến nay, vợ chồng cũng ly thân từ đó, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chungg không thể kéo dài, mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Phạm Thị T.
Anh và chị T có 01 con chung là Hà Phạm Ngọc C, sinh ngày 04/01/2006, hiện con đang ở cùng chị T. Ly hôn, anh đề nghị giao con Hà Phạm Ngọc C cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 4/2022 cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chị T là lao động tự do, thu nhập thế nào anh không rõ.
Anh và chị T tự phân chia tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng không nợ ai tài sản gì, không có tài sản cho người khác vay, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*) Bị đơn là chị Phạm Thị T không trình bày lời khai, vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
*) Đại diện chính quyền địa phương nơi chị T đang cư trú cung cấp nội dung như sau:
Chị Phạm Thị T và anh Hà Ngọc H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện K theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn, chị T và anh H sống cùng gia đình anh H, quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn nhưng chưa đến mức địa phương phải can thiệp, nguyên nhân do đâu thì địa phương không rõ, chỉ biết chị T đã về địa phương sinh sống từ tháng 10/2012 đến nay. Việc anh H xin ly hôn chị T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Chị T và anh H có 01 con chung như anh H đã trình bày là đúng, hiện nay con chung đang sinh sống cùng chị T. Việc nuôi con chung đề nghị Tòa án căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh của từng người, nguyện vọng của cháu và phù hợp quy định của pháp luật để giao cho người đó, đảm bảo quyền lợi cho cháu. Chị T có nơi cư trú và thu nhập ổn định.
Về tài sản chung của chị T và anh H địa phương không nắm được, vợ chồng không nợ gì đối với các tổ chức, đoàn thể tại địa phương.
*) Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến tại phiên tòa giải quyết vụ án dân sự:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:
+ Về hôn nhân: Xử cho anh Hà Ngọc H được ly hôn chị Phạm Thị T.
+ Về nuôi con chung: Giao cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Hà Phạm Ngọc C, sinh ngày 04/01/2006; chấp nhận việc anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng cho con khi cần thiết.
+ Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
+ Anh H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm và án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
+ Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự để trình bày lời khai, tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bị đơn là chị Phạm Thị T không trình bày lời khai, vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa. Nguyên đơn là anh Hà Ngọc H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự: Tòa án xét xử trong trường hợp vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Hôn nhân giữa anh Hà Ngọc H và chị Phạm Thị T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế và tính cách không hòa hợp. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên đến tháng 10/2020 chị T cùng con về nhà bố mẹ đẻ tại xã M sinh sống đến nay, vợ chồng cũng ly thân từ đó, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Như vậy, mâu thuẫn giữa anh H và chị T là có thật và ngày càng căng thẳng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho anh Hà Ngọc H được ly hôn chị Phạm Thị T là phù hợp quy định của pháp luật.
Về nuôi con chung: Anh H và chị T có 01 con chung là Hà Phạm Ngọc C, sinh ngày 04/01/2006, từ khi vợ chồng ly thân thì con ở cùng chị T. Ly hôn, anh H đề nghị chị T trực tiếp nuôi dưỡng con, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng. Hội đồng xét xử thấy: Chị T có chỗ ở và thu nhập ổn định, con đang học tập và sinh sống ổn định, con có nguyện vọng được ở cùng chị T khi bố mẹ ly hôn. Vì vậy, chị T có đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc con. Do đó, áp dụng các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình xử giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng con là phù hợp quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của con. Chấp nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 4/2022 cho đến khi con tròn 18 tuổi của anh H.
Về tài sản chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, chị Thủy chưa có lời khai về tài sản nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Anh Hà Ngọc H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm và án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Căn cứ nhận xét trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, 203, 235, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Xử cho anh Hà Ngọc H được ly hôn chị Phạm Thị T.
2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Hà Phạm Ngọc C, sinh ngày 04/01/2006; anh Hà Ngọc H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 4/2022 cho đến khi con tròn 18 tuổi.
Anh H và chị T có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
3. Về tài sản: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí: Anh Hà Ngọc H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, chuyển số tiền 600.000 đồng anh H đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0001586 ngày 28/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Thái Bình thành án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Kiến Xương; - Đương sự; - UBND xã A, huyện K, tỉnh Thái Bình (Nơi ĐKKH); - UBND xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS huyện K; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Hồng Thái |