- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi người nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Nguyệt M về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với anh Nguyễn Văn Huỳnh T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HNGĐ-ST Ngày: 16/02/2022 V/v: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Thanh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Lem
Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Minh Thơ - Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2022, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 78/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2021, về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 01 năm 2022, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Nguyệt M, sinh năm: 1984;
ĐKTT: tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Huỳnh T, sinh năm: 1982;
Địa chỉ: tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M
- Luật Sư chi nhánh Bến Tre - Công ty THHHDC0UNSEL thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nguyên đơn là chị Đoàn Thị Nguyệt M trình bày:
Nguyễn Văn Huỳnh T và Đoàn Thị Nguyệt M đã ly hôn theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 18/2016/QĐ-VDS, ngày 07/3/2016 của Tòa án nhân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, chị và Nguyễn Văn Huỳnh T thỏa thuận về việc nuôi con chung, Nguyễn Văn Huỳnh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Ngọc Phương Tr, sinh ngày 10/9/2010. Tuy nhiên, trong quá trình nuôi dưỡng con chung Nguyễn Văn Huỳnh T đi làm ăn xa không có thời gian chăm sóc con chung đã nhờ bà nội của cháu chăm sóc cháu,
Trang 1
hiện nay bà nội cháu tuổi già sức yếu nên việc chăm sóc gặp nhiều khó khăn, việc học tập của cháu ngày càng sa sút, hiện tại Nguyễn Văn Huỳnh T sử dụng ma túy bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đồng thời Đoàn Thị Nguyệt M có công việc làm ổn định có thu nhập và hiện tại trong thời gian Nguyễn Văn Huỳnh T bị đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thì cháu Trang đã về chung sống với Đoàn Thị Nguyệt M và ý kiến của cháu Trang muốn được sống với Đoàn Thị Nguyệt M. Đoàn Thị Nguyệt M khởi kiện có yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre giải quyết thay đổi về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đới với anh Nguyễn Văn Huỳnh T, cụ thể chị có yêu cầu Nguyễn Văn Huỳnh T giao cháu Nguyễn Ngọc Phương Tr, sinh ngày 10/09/2010 cho Đoàn Thị Nguyệt M nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành, Đoàn Thị Nguyệt M không yêu cầu Nguyễn Văn Huỳnh T cấp dưỡng nuôi con.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Đoàn Thị Nguyệt M vẫn có ý kiến giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn Huỳnh T sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã thông báo hợp lệ các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng Nguyễn Văn Huỳnh T đều vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của Đoàn Thị Nguyệt M.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có ý kiến: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Đoàn Thị Nguyệt M về việc thay đổi về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Đoàn Thị Nguyệt M được tiếp tục nuôi con chung là cháu Nguyễn Ngọc Phương Tr, sinh ngày 10/9/2010 cho đến khi cháu Trang đủ 18 tuổi, Đoàn Thị Nguyệt M không có yêu cầu Nguyễn Văn Huỳnh T cấp dưỡng nuôi con.
Đại diện Viện kiểm nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật và chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật và chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: đối với nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ theo quy định Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ theo quy định Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về giải quyết vụ án: căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Nguyệt M.
- Giao cháu Nguyễn Ngọc Phương Tr, sinh ngày 10/9/2010 cho chị Đoàn Thị Nguyệt M nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc trưởng thành. Ghi nhận Đoàn Thị Nguyệt M không yêu cầu Nguyễn Văn Huỳnh T cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trang 2
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Đoàn Thị Nguyệt M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho được thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với anh Nguyễn Văn Huỳnh T. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của Đoàn Thị Nguyệt M được xác định vụ án có quan hệ pháp luật “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Anh Nguyễn Văn Huỳnh T là bị đơn có nơi cư trú tại ấp Phú Hòa (ấp 3), xã Sơn Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Đoàn Thị Nguyệt M có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Nguyễn Văn Huỳnh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Đoàn Thị Nguyệt M và Nguyễn Văn Huỳnh T.
Về nội dung:
Đoàn Thị Nguyệt M yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, cụ thể yêu cầu Nguyễn Văn Huỳnh T giao cháu Nguyễn Ngọc Phương Tr, sinh ngày 10/09/2010 cho Đoàn Thị Nguyệt M nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành, Đoàn Thị Nguyệt M không yêu cầu Nguyễn Văn Huỳnh T cấp dưỡng nuôi con.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đoàn Thị Nguyệt M và Nguyễn Văn Huỳnh T sống chung với nhau vào năm 2010, quá trình chung sống Đoàn Thị Nguyệt M và Nguyễn Văn Huỳnh T có một con chung là cháu Nguyễn Ngọc Phương Tr, sinh ngày 10/09/2010. Nguyễn Văn Huỳnh T và Đoàn Thị Nguyệt M đã ly hôn theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 18/2016/QĐ-VDS, ngày 07/3/2016 của Tòa án nhân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, chị và Nguyễn Văn Huỳnh T thỏa thuận trong quyết định về con chung Nguyễn Văn Huỳnh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Ngọc Phương Tr, sinh ngày 10/9/2010, Đoàn Thị Nguyệt M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trang theo định kỳ hàng tháng, mỗi tháng là 1.000.000 đồng kể từ ngày 07/3/2016 cho đến khi cháu Trang đủ 18 tuổi.
Trong thời gian nuôi dưỡng cháu Trang thì Nguyễn Văn Huỳnh T đi làm ăn xa không có thời gian chăm sóc con chung nên cháu Trang chưa đảm bảo phát triển tốt về thể lực thể hiện tại Giấy khám sức khỏe số 185/2021/GKSK-TTYT ngày 19/02/2021 của Trung tâm y tế huyện Tân Trụ, tỉnh Long An kết luận cháu Trang sức khỏe loại 5, vấn đề cần lưu ý là thể lực (BL 40-41). Đồng thời Nguyễn Văn Huỳnh T là người từng nghiện ma túy, bị đưa cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang theo Quyết định số 97/2020/QĐ-TA ngày 27/10/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, đến ngày
Trang 3
26/8/2021 đã chấp hành xong quyết định. Sau khi trở về địa phương Nguyễn Văn Huỳnh T chưa có nghề nghiệp ổn định, hiện tại Nguyễn Văn Huỳnh T lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thể hiện tại biên bản xét nghiệm chất ma túy đối vối Nguyễn Văn Huỳnh T của Công an xã Sơn Phú, huyện Giồng Trôm lập ngày 23/12/2021 (BL 102). Như vậy, với trường hợp của Nguyễn Văn Huỳnh T không đảm bảo điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Hiện nay, cháu Trang đang sống chung với Đoàn Thị Nguyệt M, theo Quyết định về việc công nhận kết quả tuyển sinh vào lớp 6 Trường THCS thị trấn Tân Trụ, chứng tỏ sau khi về sống chung với Đoàn Thị Nguyệt M cháu Trang có kết quả học tập tốt (BL 74-77), Đoàn Thị Nguyệt M làm việc tại Công ty TNHH PNS STITCHERS có mức lương cơ bản và các khoản phụ cấp hơn 6.000.000 đồng/tháng (BL 10-13), bên cạnh đó Đoàn Thị Nguyệt M cũng được sự hỗ trợ từ mẹ ruột là bà Võ Thị Kim Chưởng về nơi ở và các điều kiện khác để đảm bảo chăm lo cho cháu Trang. Bà Nguyễn Thị Tiếng (mẹ ruột Nguyễn Văn Huỳnh T) cũng đồng ý giao cháu Trang cho Đoàn Thị Nguyệt M nuôi dưỡng, hiện cháu Trang có nguyện vọng muốn được sống chung với Đoàn Thị Nguyệt M.
Đối với anh Nguyễn Văn Huỳnh Văn Tư trong quá trình giải quyết vụ án Nguyễn Văn Huỳnh T vắng mặt không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Đoàn Thị Nguyệt M, đồng thời Tòa án đã tiến hành thông báo việc giao nộp tài liệu chứng cứ để thể hiện về điều kiện nuôi con đối với Nguyễn Văn Huỳnh T nhưng Nguyễn Văn Huỳnh T vẫn không cung cấp tài liệu, chứng cứ.
Ngoài ra, sau khi ly hôn Đoàn Thị Nguyệt M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trang theo định kỳ hàng tháng, mỗi tháng là 1.000.000 đồng, tại Công văn số 659/CCTHADS ngày 22/9/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm thể hiện chưa thụ lý phần thi hành án nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với Đoàn Thị Nguyệt M. Như vậy, cho đến nay Nguyễn Văn Huỳnh T chưa yêu cầu Đoàn Thị Nguyệt M thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Căn cứ theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu khởi kiện của Đoàn Thị Nguyệt M là có cơ sở xem xét nên được chấp nhận. Hiện nay cháu Trang chung đang sống với Đoàn Thị Nguyệt M nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, Hội đồng xét xử giao cháu Trang cho Đoàn Thị Nguyệt M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Trang đủ 18 tuổi là phù hợp, điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Trang là muốn chung sống với Đoàn Thị Nguyệt M.
Về việc cấp dưỡng cho con: theo quy định tại khoản 2 Điều 82 và khoản 1 Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì Đoàn Thị Nguyệt M có quyền yêu cầu Nguyễn Văn Huỳnh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung. Tuy nhiên do Đoàn Thị Nguyệt M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với lời trình bày của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những nhận định nêu trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: do yêu cầu khởi kiện của Đoàn Thị Nguyệt M được chấp nhận nên Nguyễn Văn Huỳnh T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
Trang 4
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Anh Nguyễn Văn Huỳnh T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Chị Đoàn Thị Nguyệt M được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006909 ngày 08 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Nguyệt M về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với anh Nguyễn Văn Huỳnh T.
2. Về con chung: giao cháu Nguyễn Ngọc Phương Tr, sinh ngày 10/9/2010 cho chị Đoàn Thị Nguyệt M được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Trang đủ 18 tuổi. Ghi nhận Đoàn Thị Nguyệt M không yêu cầu anh Nguyễn Văn Huỳnh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Nguyễn Văn Huỳnh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về án phí:
- Anh Nguyễn Văn Huỳnh T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Chị Đoàn Thị Nguyệt M được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006909 ngày 08 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm.
4.Về quyền kháng cáo: trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, các đương sự được quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Giồng Trôm;
Trang 5
- Chi cục THADS huyện Giồng Trôm;
- TAND tỉnh Bến Tre;
Võ Thị Thanh Huệ
Trang 6
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Giồng Trôm; - UBND xã Phước Long, huyện Giồng Trôm. - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm; - TAND tỉnh Bến Tre; Trang 7 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Huệ |