- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thi Thu P xin ly hôn anh Nguyễn Phi H"
- Tòa quyết gì? Hủy một phần Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 02/2022/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện V đã xét xử về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” giữa nguyên đơn chị Phan Thị Thu P với bị đơn anh Nguyễn Phi H về phần nuôi con chung.
- Căn cứ chính? Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HNGĐ-PT Ngày: 18-7-2022 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Liên.
Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Thắm.
Ông Phan Minh Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Trường là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định: Bà Võ Thị Lệ Giang - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 18 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2022/TLPT-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 02/2022/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện V bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 25/2022/QĐ-PT ngày 09 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thu P; nơi cư trú: Khu phố 2, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Phi H; nơi cư trú: Khu phố 2, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định (Có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Anh Nguyễn Phi H là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Thu P và anh Nguyễn Phi H kết hôn ngày 06 tháng 5 năm 2021, trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện V. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung với gia đình anh H được một thời gian ngắn đã phát sinh mâu thuẫn. Theo chị P, nguyên nhân do chị và anh H không có việc làm, không có thu nhập, sống phụ thuộc vào cha mẹ chồng, anh H nghiện cờ bạc, ngoại tình với người phụ nữ khác, vợ chồng kình cãi có lúc anh H bạo lực với chị. Sau khi chị sinh con, giữa chị và mẹ chồng bất đồng trong việc chăm sóc con, anh H nghe lời mẹ nên chửi bới, xúc phạm chị. Tháng 11/2021, vợ chông mâu thẫn gay gắt, nguyên nhân do chị chịu nhiều áp lực phía nhà chồng, anh H và mẹ chồng hăm dọa đuổi chị ra khỏi nhà, không cho chị gần con, không cho chị cho con bú sữa, chị nghĩ quẫn, nên uống thuốc tự tử và được người nhà đưa đi bệnh viện. Sau khi xuất viện, chị về nhà cha mẹ chị ở, anh H yêu cầu chị về nhà cha mẹ anh ở, nhưng chị không đồng ý, nên anh H không cho con về ở chung với chị. Hiện tại vợ chồng sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể duy trì, nên yêu cầu được ly hôn anh H. Còn anh H cho rằng, vợ chồng mâu thuẫn là do anh không đồng ý với mẹ chị P về việc chăm sóc chị P sau khi sinh, anh góp ý nhưng chị P bênh mẹ chị, nên vợ chồng kình cãi, chị P tỏ thái độ không tôn trọng mẹ anh. Ngày 15/12/2021, mẹ chị P đến nhà anh nói chị P đã uống thuốc tự tử, gia đình anh bảo cho đi bệnh viện, nhưng mẹ chị P không đồng ý mà gọi bác sĩ về khám. Ngày hôm sau, chị P bị nôn ói, được người nhà đưa đi bệnh viện, nhưng khi xuất viện, chị P không về nhà anh, mà về nhà cha mẹ chị. Mẹ chị P đến nhà anh đón cháu K đi, nhưng vì trời mưa gió, nên anh không đồng ý. Ba anh có đến nhà mẹ chị P, xin dẫn chị P về cho con bú, nhưng chị P và mẹ chị P không đồng ý. Anh thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, nên đồng ý ly hôn, nhưng phải làm rõ việc mẹ chị P vu khống gia đình anh.
- Về nuôi con chung: Chị P anh H thống nhất có 01 con chung là Nguyễn Minh Hoàng Đăng K, sinh ngày 02/12/2021 đang ở với anh H, sức khỏe bình thường. Chị P anh H đều yêu cầu được nuôi cháu K - chị P yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, còn anh H không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị P anh H thống nhất không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 02/2022/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện V đã quyết định:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Thu P. Cho chị Phan Thị Thu P được ly hôn anh Nguyễn Phi H.
2. Về con chung:
- Giao con chung Nguyễn Minh Hoàng Đăng K, sinh ngày 02/12/2021 cho chị Phan Thị Thu P trực tiếp nuôi dưỡng.
- Anh Nguyễn Phi H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 08/4/2022.
3. Về tài sản chung: Chị Phan Thị Thu P và anh Nguyễn Phi H không yêu cầu, nên không xem xét. Nếu sau này một hoặc hai bên có tranh chấp về tài sản chung thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý, giải quyết bằng một vụ án khác.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con, quyền và nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 27 tháng 4 năm 2022, anh Nguyễn Phi H kháng cáo yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Minh Hoàng Đăng K, không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng và đề nghị: Hủy một phần bản án sơ thẩm về nuôi con chung, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện V giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Phi H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H.
Về nuôi con chung: Anh Nguyễn Phi H kháng cáo yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Minh Hoàng Đăng K, sinh ngày 02/12/2021, không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con, nhưng chị Phan Thị Thu P không đồng ý. Thấy rằng: Anh H yêu cầu được nuôi con chung là hoàn toàn chính đáng, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của người cha. Nhưng việc giao con chung chưa thành niên cho ai trông nom, nuôi dưỡng phải xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của người con. Hiện tại cháu K chỉ mới hơn 07 tháng tuổi, cháu còn quá nhỏ, độ tuổi của cháu rất cần tình thương yêu, sự gần gũi, chăm sóc tỉ mỉ, chu đáo của người mẹ. Mặt khác, chị P có nơi ở ổn định (đang ở chung với mẹ chị), ngoài chị trực tiếp chăm sóc cháu K, còn có mẹ chị hỗ trợ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Tòa án cấp sơ thẩm giao cháu K cho chị P nuôi dưỡng và anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình - Nhưng anh H đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, Tòa án cấp sơ thẩm không buộc anh H phải giao cháu Khoa cho chị P được trực tiếp nuôi dưỡng là thiếu sót. Hiện anh H đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, cháu K do bà Bùi Thị Hồng H (mẹ đẻ anh H) đang trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, cần phải đưa bà Bùi Thị Hồng H tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm, mà không thể thực hiện bổ sung được, nên hủy một phần bản án sơ thẩm về phần nuôi con chung, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện V giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV thì anh H không phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 282, 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, về tài sản chung, án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm đề nghị: Hủy một phần bản án sơ thẩm về phần nuôi con chung, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Vân Canh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 296, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Tuyên xử:
1. Hủy một phần Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 02/2022/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện V đã xét xử về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” giữa nguyên đơn chị Phan Thị Thu P với bị đơn anh Nguyễn Phi H về phần nuôi con chung.
2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện V giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, về tài sản chung, án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả lại cho anh Nguyễn Phi H 300.0000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012341 ngày 09/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Định; - TAND huyện V; - Chi cục THA dân sự huyện V; - Các bên đương sự; - Lưu: HS, Tòa GĐ&NCTN. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Liên |