- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƢỚC SƠN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2021/HS-ST Ngày: 15/11/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƢỚC SƠN – TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Pơ Loong Đếch
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Ngô Thắng
+ Bà Trần Thị Minh Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Phương – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2021/TLST-HS, ngày 28 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2021/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN N; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1988, tại: Huyện V, tỉnh T; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh T; nghề nghiệp: Không ổn định; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Cao Thị S (chết). Tiền sự: Không; tiền án: Ngày 25/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ ngày 11/8/2021 và tạm giam ngày 13/8/2021, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam; có mặt.
- Người bị hại:
+ Ông Hồ Văn C; trú tại: Thôn L, xã X, huyện P, tỉnh Q; có mặt.
+ Bà Y; trú tại: Thôn L, xã X, huyện P, tỉnh Q; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 10/8/2021, Nguyễn Văn N đi bộ từ huyện Nam Giang lên huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam, khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày đi đến địa phận thôn Lao Mưng, xã Phước Xuân, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam thì thấy có 01 xe máy hiệu SIRIUS, BKS 92P1-046.21 để bên lề đường Hồ Chí Minh không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Nguyễn Văn N đi đến xe máy rồi lấy chìa khóa xe máy có sẵn trong người mở ổ khóa thì xe nổ máy, sau đó Nguyễn Văn N lấy mũ bảo hiểm treo trên xe máy rồi điều khiển về hướng tỉnh KonTum. Khi đến chốt kiểm soát dịch Covid -19 đặt ở ranh giới giữa tỉnh Quảng Nam và tỉnh KonTum thì bị chặn lại, do không xuất trình được giấy tờ tùy thân nên Nguyễn Văn N điều khiển xe máy về lại địa phận huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam thì bị Công an bắt giữ. Tại Cơ quan điều tra Công an huyện Phước Sơn, Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe máy BKS 92P1-046.21.
Vật chứng thu giữ: 01 xe máy hiệu SIRIUS, màu sơn đen, BKS 92P1-046.21; 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai, màu hồng có Logo PUMA; 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy mang tên Hồ Văn C và 01 chiếc chìa khóa xe máy có chữ HONDA.
Tại Kết luận định giá tài sản số 13/KL-ĐG, ngày 12/8/2021 và kết luận số 14/KL-ĐG, ngày 30/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phước Sơn kết luận: 01 (một) xe máy hiệu SIRIUS, màu sơn đen, BKS 92P1-046.21 có giá 10.750.000 đồng; 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai, màu hồng có Logo PUMA có giá 50.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 23/CT-VKSPS-HS, ngày 26/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khai nhận:
Bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận: Ngày 10/8/2021, bị cáo đi bộ từ huyện Nam Giang lên huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam; trên đường đi lượm được 01 chìa khóa xe máy rồi bỏ vào túi quần đang mặc và tiếp tục đi bộ lên huyện Phước Sơn. Khoảng 14h 00 phút cùng ngày đến địa phận xã Phước Xuân, huyện Phước Sơn thì thấy có 01 xe máy để bên đường Hồ Chí Minh không có ai trông giữ nên đã nảy sinh ý định trộm cắp xe máy này. Bị cáo quan sát không thấy ai nên lấy chìa khóa trong túi quần mở ổ khóa xe khởi động thì nổ máy, bị cáo lấy mũ bảo hiểm có sẵn trên xe máy rồi điều khiển về hướng tỉnh Kom Tum nhưng khi đến chốt kiểm dịch Covid-19 của tỉnh Kom Tum thì bị chặn lại không cho qua, do không xuất trình được giấy tờ tùy thân; sau đó bị cáo điều khiển xe máy về lại địa phận huyện Phước Sơn thì bị Công an bắt giữ. Người lấy trộm xe máy BKS 92P1-046.21 tại địa phận thôn Lao Mưng, xã Phước Xuân, huyện Phước Sơn vào ngày 10/8/2021 chính là bị cáo; chỉ có một mình bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp xe máy; ngoài xe máy và mũ bảo hiểm ra bị cáo không lấy trộm tài sản gì khác trong xe máy. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị đánh đập, không bị ép cung, hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.
Người bị hại bà Y khai: Chiều ngày 10/8/2021, tôi để xe máy BKS 92P1-046.21 cùng mũ bảo hiểm lưỡi trai bên đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thôn Lao Mưng, xã Phước Xuân, huyện Phước Sơn rồi lên rẫy chặt củi. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày đi về thì phát hiện xe máy và mũ bảo hiểm bị mất. Sau đó tôi trình báo với Công an. Vợ chồng tôi đã nhận lại 01 xe máy BKS 92P1-046.21, 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe máy mang tên Hồ Văn C; xe máy không bị hư hỏng gì. Tôi không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường gì.
Người bị hại ông Hồ Văn C khai: Xe máy BKS 92P1-046.21 do tôi đứng tên giấy tờ xe. Ngày 10/8/2021, vợ tôi Y đi rẫy chặt củi, sau đó điện nói với tôi xe máy đã bị mất trộm. Vợ chồng tôi đã nhận lại 01 xe máy BKS 92P1-046.21, 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe máy, xe máy không bị hư hỏng gì. Tôi thống nhất như ý kiến của vợ là không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường gì.
Luận tội của Kiểm sát viên: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; kết luận định giá tài sản; lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn N tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thì thấy: Chiều ngày 10/8/2021, bị cáo Nguyễn Văn N đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 01 xe máy hiệu SIRIUS, BKS 92P1-046.21 và 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai tại Km 1370 + 270 đường Hồ Chí Minh, thuộc địa phận thôn Lao Mưng, xã Phước Xuân, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam của vợ chồng bà Y và ông Hồ Văn C. Theo kết luận định giá tài sản thì 01 xe máy SIRIUS, BKS 92P1-046.21 có giá 10.750.000 đồng và 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai có giá 50.000 đồng. Xét thấy hành vi lén lút trộm cắp của bị cáo Nguyễn Văn N đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo chưa có tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên được xem là tình tiết giảm nhẹ. Tình tiết tăng nặng: Ngày 25/12/2020 đã bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/3/2021 chưa được xóa án tích nên bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp “Tái phạm”.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ: 12 – 15 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, người bị hại vợ chồng bà Y và ông Hồ Văn C không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường khoản gì nên không đề cập.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa xe máy có chữ HONDA của bị cáo dùng để phạm tội.
Cơ quan điều tra Công an huyện Phước Sơn đã trả lại cho bà Y gồm 01 xe máy SIRIUS màu sơn đen, BKS 92P1-046.21; 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Hồ Văn C nên không đề cập.
Bị cáo Nguyễn Văn N không tranh luận gì, nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại vợ chồng bà Y và ông Hồ Văn C không tranh luận gì; không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường khoản gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của điều tra viên; của Viện kiểm sát, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn N và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Nên các hành vi và quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn N biết và nhận thức được hành vi của mình là nếu thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật xử lý. Thế nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể: Chiều ngày 10/8/2021, bị cáo Nguyễn Văn N đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 01 xe máy hiệu SIRIUS, BKS 92P1-046.21 và 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai tại Km 1370 + 270 đường Hồ Chí Minh, thuộc địa phận thôn Lao Mưng, xã Phước Xuân, huyện Phước Sơn của vợ chồng bà Y và ông Hồ Văn C, tổng giá trị tài sản trộm cắp theo định giá là 10.800.000 đồng.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; kết luận định giá tài sản; luận tội của Kiểm sát viên; các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung và lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn N tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ được chứng minh có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ kết luận: Hành vi lén lút trộm cắp 01 xe máy hiệu SIRUS, màu sơn đen, BKS 92P1-046.21 vào chiều ngày 10/8/2021 của bị cáo Nguyễn Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Công dân có quyền được có tài sản hợp pháp và được pháp luật bảo vệ, nếu người nào có hành vi xâm phạm trái phép đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác thì sẽ bị pháp luật xử lý thế nhưng bị cáo Nguyễn Văn N vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy người thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 01 xe máy SIRIUS, BKS 92P1-046.21 của vợ chồng bà Y và ông Hồ Văn C vào chiều ngày 10/8/2021 tại địa phận thôn Lao Mưng, xã Phước Xuân, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam chính là bị cáo, do đó bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Xét thấy tình hình tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Phước Sơn diễn biến phức tạp, hơn nữa bị cáo đã bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” lẻ ra phải biết tự cải tạo, giáo dục để trở thành công dân có ích cho xã hội thế nhưng bị cáo không những không biết ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chứng tỏ bị cáo bất chấp và coi thường pháp luật. Xét thấy cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm minh và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để cải tạo, giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn N chưa có tiền sự, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên được xem là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: Ngày 25/12/2020 đã bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/3/2021 chưa được xóa án tích nên bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản thì người bị hại vợ chồng bà Y và ông Hồ Văn C không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường khoản gì nên không đề cập.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa xe máy có chữ HONDA của bị cáo Nguyễn Văn N dùng vào việc phạm tội.
Đối với 01 xe máy hiệu SIRIUS, màu sơn đen, BKS 92P1-046.21; 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Hồ Văn C. Cơ quan điều tra Công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đã trả lại cho người bị hại là bà Y nên không đề cập.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án tuyên buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo:
NGUYỄN VĂN N: 12 (mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 11/8/2021.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc chìa khóa xe máy có chữ HONDA của bị cáo Nguyễn Văn N dùng vào việc phạm tội (Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam theo biên bản giao, nhận ngày 27/10/2021).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án tuyên buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo; người bị hại có quyền làm đơn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Các cq tiến hành tố tụng; - Tòa án tỉnh Q.Nam; - VKS tỉnh Q.Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Q.Nam; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Pơ Loong Đếch |