- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thiên C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!! THÀNH!PHỐ!T.S! TỈNH!BẮC!NINH! ––––––––––––––– Bản án số: 22/2021/HS-ST |
Ngày 16/11/2021
!
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!T.S,!TỈNH!BẮC!NINH!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông Ngô Xuân Hải, bà Nguyễn Thị Giang.
- Thư ký phiên tòa:"Bà Đàm Thu Hường"- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T.S.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T.S tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T.S, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2021/TLST-HS ngày 18/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST-HS ngày 02/11/2021 đối với:
1.Bị"cáo:"Nguyễn!Thiên!C, sinh năm 1997; Nơi đăng ký HKTT: Xóm T.M, xã T.H, huyện T.K, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thiên Q và bà Nguyễn Thị H; Có vợ là Chu Thị M và có 01 con sinh năm 2019;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/8/2021 đến ngày 21/8/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
2."Bị"hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn T.L, xã Đ.G, huyện Y.D, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 13/8/2021 tại kho cơ điện trong Công ty TNHH S.A có địa chỉ khu phố T.H, phường Đ.B, thành phố T.S, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Thiên C đã có hành vi trộm cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen, bên ngoài bọc ốp nhựa màu đen của anh Nguyễn Văn T. Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, C đã đến Công an đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp vật chứng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 75/KL-HĐĐG ngày 18/8/2021 của Hội đồng định giá thường xuyên thành phố T.S kết luận: Chiếc"điện"thoại"di"động"nhãn" hiệu"Iphone"XS"Max"màu"đen,"01"ốp"nhựa"màu"đen"có"tổng"trị"giá"9.030.000"đồng.
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 190/CT-VKSTS ngày 18/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T.S đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố T.S để xét xử bị cáo Nguyễn Thiên C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại"phiên"tòa,"bị"cáo"khai"nhận: Bị cáo là công nhân của bộ phận đúc của Công ty TNHH S.A có địa chỉ khu phố T.H, phường Đ.B, thành phố T.S, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 13/8/2021 tại kho cơ điện trong Công ty TNHH S.A, Nguyễn Thiên C đã có hành vi trộm cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen, bên ngoài bọc ốp nhựa màu đen có trị giá 9.030.000 đồng của anh Nguyễn Văn T. Sau khi lấy được điện thoại, C đưa điện thoại và sim cho bạn là Chu Văn Đ cầm hộ. Khi đưa C nói điện thoại mượn của bạn. Sau đó C lấy điện thoại về phòng trọ cất giữ. Biết hành vi phạm tội của mình bị phát hiện, C đã đến Công an đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp vật chứng. Đ đã giao nộp chiếc sim điện thoại số 0848661991.
Bị hại là anh Nguyễn văn T đã nhận lại toàn bộ số tài sản bị mất không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T.S vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thiên C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo C từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/8/2021 đến ngày 21/8/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T.S về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản người phạm tội đầu thú và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 13/8/2021 tại kho cơ điện trong Công ty TNHH S.A có địa chỉ khu phố T.H, phường Đ.B, thành phố T.S, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Thiên C đã có hành vi trộm cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen, bên ngoài bọc ốp nhựa màu đen của anh Nguyễn Văn T trị giá 9.030.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Thiên C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T.S đã truy tố.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Lần phạm tội này của bị cáo là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi trộm cắp tài sản, bị cáo đã đến Công an đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Chu Văn Đ là người cầm hộ điện thoại, sim C lấy trộm của anh T nhưng anh Đại không biết đây là tài sản C trộm cắp nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh Đại là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thiên C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thiên C 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã T.H, huyện T.K, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND thành phố T.S; - Công an thành phố T.S; - Chi cục THADS thành phố T.S; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP""" | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! " " " " " Nguyễn!Thị!Hồng!Thanh! |