- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị Th chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị Th phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S TỈNH PHÚ YÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2021/HS-ST Ngày: 15-6- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Tiên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Long và ông Bùi Trọng Vũ
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Quốc Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2021/QĐST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Đỗ Thị Th (tên gọi khác: Không), sinh năm 1975; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn Hòa M, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn S (chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1955; có chồng Dương Ngọc Đ, sinh năm 1965 và 03 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/02/2021. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Duy Th, sinh năm 1995 – Công an xã Xuân Cảnh, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Anh Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1989; trú tại: Khu phố Long Hải Đ, phường Xuân Y, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
2. Anh Nguyễn Công Th, sinh năm 1992; trú tại: Thôn Hòa M, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
3. Anh Võ Lê H, sinh năm 1998; trú tại: Thôn Hòa M, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
4. Ông Lê Văn V, sinh năm 1982; trú tại: Thôn Hòa H, xã Xuân Th, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
5. Ông Lê Xuân Ph, sinh năm 1978; trú tại: Thôn Hòa H, xã Xuân Th, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 29/8/2020, Công an xã Xuân Cảnh tiếp nhận tin báo từ quần chúng nhân dân tại Quốc lộ 1A Thộc Thôn Hòa M, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên xảy ra vụ tai nạn giao thông. Đồng chí Nguyễn Duy Th (Phó Trưởng Công an xã Xuân Cảnh) trực chỉ huy phân công đồng chí Trần Duy Th và đồng chí Nguyễn Công Th (Công an viên) đến hiện trường vụ tai nạn để xác minh, bảo vệ hiện trường. Đồng chí Th và Th2 đều mặc trang phục ngành Công an đúng quy định đến hiện trường vụ tai nạn giao thông tại Km 1263 QL1A Thộc thôn Hòa M, xã Xuân C thì phát hiện giữa xe mô tô BKS 78D1 – 266.71 và xe mô tô BKS 77G1 – 103.66 va chạm đang ngã tại lòng đường QL1A Thộc phần dành cho phương tiện lưu hành theo hướng Bắc – Nam gây ách tắc giao thông. Đồng chí Thvà đồng chí Th2 sử dụng gậy giao thông cảnh báo, khoanh vùng hiện trường, Đồng chí Th chụp ảnh và dùng mảnh gạch vỡ đánh dấu vị trí xe mô tô BKS 77G1 – 103.66 rồi dắt xe này vào lề đường phía Đông (gần bảng hiệu nhà hàng Bãi Tiên) để đảm bảo an toàn cho các xe lưu hành và tránh ách tắc giao thông. Đồng chí Th2 đặt báo hiệu và ra tín hiệu cho các phương tiện giao thông. Khi thấy đồng chí Th dắt xe mô tô BKS 77G1 – 103.66 vào lề đường phía Đông thì bà Đỗ Thị Th đi đến vị trí của đồng chí Th hô la, chửi mắng đồng chí Th rồi dùng hai tay nắm kéo xe mô tô 77G1-103.66 ra hướng lòng đường QL1A, đồng chí Th giải thích đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hiện trường và yêu cầu Th không được cản trở nhưng Th vẫn giằng co với đồng chí Th, cản trở đồng chí Th đang làm nhiệm vụ. Th dùng hai tay nắm kéo cổ áo đồng chí Th và dùng tay đánh trúng vùng má phải của Th nhưng không gây thương tích. Th giật lấy mũ bảo hiểm đồng chí Th đang đội đập xuống lề đường QL1A và tiếp tục dùng tay, chân đạp nhiều cái vào xe mô tô BKS 77G1 – 103.66 nhưng không gây hư hỏng, lúc này có nhiều người dân đến xem và can ngăn Th nhưng Th vẫn không dừng lại mà tiếp tục hô la, giằng co với đồng chí Th, anh Lê Văn V đứng xem vì sợ Th sẽ tiếp tục có hành vi cản trở, chống đối đập phá xe mô tô nên đã dắt mô tô BKS 77G1-103.66 ra để gần vị trí đồng chí Th đã đánh dấu. Tiếp đó, Th đến ngồi lên xe mô tô BKS 77G1-103.66, đồng chí Th tiếp tục giải thích và yêu cầu Th không được cản trở lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ nhưng Th vẫn không chấp hành mà tiếp tục ngồi trên xe hô la. Sau đó tổ công tác xử lý tai nạn giao thông Công an thị xã S gồm các đồng chí Huỳnh Ngọc T, Vũ Đức Th3 và Lê Thế L đến hiện trường để giải quyết vụ tai nạn giao thông. Sau khi khoanh vùng hiện trường và đặt báo hiệu xong, đồng chí T và đồng chí Th đến giải thích và yêu cầu Th rời khỏi xe mô tô BKS 77G1-103.66 đi vào lề đường để tổ công tác thực hiện nhiệm vụ nhưng Th vẫn không chấp hành mà tiếp tục ngồi trên xe mô tô 77G1-103.66 hô la, khoảng 05 phút sau thì Th bỏ đi vào lề đường QL1A.
Vật chứng vụ án: 01 mũ bảo hiểm ¾ đầu màu đen có nhãn hiệu Napoli Project 46, phía trước có kính chắn gió; 01 điện thoại di động được niêm phong trong túi niêm phong số 090978; 01 xe máy BKS 78D1-150.23.
Cáo trạng số 17/CT-VKSSC ngày 31/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S đã truy tố bị cáo Đỗ Thị Thvề tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Th không đồng ý với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, diễn biến sự việc xảy ra vào tối ngày 29/8/2020 theo bị cáo trình bày: Khi bị cáo từ nhà của bị cáo sang nhà hàng Bãi Tiên tập thể dục, bị cáo thấy 01 chiếc xe bị tai nạn - biển số xe có số “10” để chung 04 chiếc xe máy khác nên bị cáo hỏi đồng chí Th là tại sao xe bị tai nạn lại để chung với 04 chiếc xe này, đồng chí Th đang nghe điện thoại nên không trả lời bị cáo. Thời điểm này có 04 người đàn ông lạ mặt đứng cạnh chiếc xe bị tai nạn và có ý định dắt xe bị tai nạn. Theo phản xạ tự nhiên, bị cáo sợ 04 người lạ mặt lấy mất xe nên bị cáo giằng co xe, đồng chí Th cũng giằng co xe. Vị trí khi giằng co xe: Đồng chí Th giữ đầu xe và giằng co, kéo xe về hướng nhà hàng Bãi Tiên, bị cáo giữ đuôi xe và giằng co xe, kéo xe về hướng lòng đường QL 1A, mục đích của bị cáo nhằm để xe bị tai nạn tại vị trí nơi xảy ra tai nạn ban đầu, giữ nguyên hiện trường như thời điểm ban đầu tai nạn xảy ra, 04 người đàn ông lạ mặt ở bên hông xe. Thời điểm đó, xe đang bị kẹt số, bị cáo không tự dắt được, bị cáo nói với 04 người đàn ông lạ mặt “dắt xe ra để cho công an làm”. Sau khi 04 người đàn ông lạ mặt dắt xe đặt tại vị trí ban đầu, bị cáo ngồi lên xe, giữ xe; sự việc từ thời điểm bị cáo ngồi lên xe, giữ xe đến khi bị cáo rời đi diễn biến như thế nào bị cáo không còn nhớ. Người dân có nói cho bị cáo biết sự việc công an đã vẽ, đánh dấu vị trí xe bị tai nạn rồi mới dắt xe vào lề đường phía nhà hàng Bãi Tiên nhưng bị cáo bức xúc nên bị cáo nói là “quyền gì mà phá hiện trường”. Quá trình bị cáo giằng co xe, đồng chí Th không giải thích sự việc cho bị cáo rõ, bị cáo không nắm kéo cổ áo, đánh má phải của đồng chí Th, không giật và đập mũ bảo hiểm đồng chí Th. Thời điểm sự việc xảy ra, bị cáo có uống vài lon bia. Bị cáo thừa nhận hành vi bị cáo tự ý dắt xe bị tai nạn từ nhà hàng Bãi Tiên đặt lại lòng đường QL 1A là sai nhưng bị cáo tự ý dắt xe ra đặt tại vị trí ban đầu nơi tai nạn xảy ra nhằm mục đích giữ nguyên hiện trường như thời điểm ban đầu tai nạn xảy ra để công an làm việc nên bị cáo không phạm tội Chống người thi hành công vụ như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không đồng ý lời trình bày của những người làm chứng nhưng thừa nhận sự việc diễn ra đúng như bản tự khai do bị cáo trình bày ngày 30/3/2021 (BL 227).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Duy Th trình bày: Sự việc xảy ra giữa anh và bị cáo Th đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Quá trình anh thực hiện nhiệm vụ, bị cáo Th đi đến vị trí của anh đứng hô la, chửi mắng anh rồi dùng hai tay nắm kéo xe mô tô 77G1-103.66 ra hướng lòng đường QL1A, anh can ngăn, giải thích đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hiện trường và yêu cầu Th không được cản trở nhưng Th vẫn giằng co với anh, cản trở anh làm nhiệm vụ. Do anh can ngăn, giằng co không cho bị cáo Th dắt xe nên bị cáo Th bỏ xe ra và bị cáo Th dùng hai tay nắm kéo cổ áo anh, dùng tay đánh trúng vùng má phải của anh nhưng không gây thương tích. Sau khi anh bị bị cáo Th đánh, anh tháo dây gài mũ bảo hiểm, mục đích tháo mũ bảo hiểm. Khi anh vừa tháo dây gài mũ bảo hiểm, mũ bảo hiểm vẫn còn đội trên đầu thì bị cáo Th giật lấy mũ bảo hiểm anh đang đội đập xuống lề đường QL1A, lúc này có nhiều người dân đến xem và can ngăn bị cáo Th nhưng bị cáo vẫn không dừng lại mà tiếp tục hô la, giằng co với anh, có 03 người đàn ông lạ mặt đứng xem vì sợ bị cáo Th sẽ tiếp tục có hành vi cản trở, chống đối đập phá xe mô tô nên đã dắt mô tô BKS 77G1-103.66 ra để gần vị trí anh đã đánh dấu. Tiếp đó, bị cáo Th đến ngồi lên xe mô tô BKS 77G1-103.66, anh tiếp tục giải thích và yêu cầu bị cáo Th không được cản trở lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ nhưng Th vẫn không chấp hành mà tiếp tục ngồi trên xe hô la cho đến khi tổ công tác Công an thị xã S tới hiện trường và tiếp tục vận động bị cáo Th rời khỏi xe.
Người làm chứng anh Nguyễn Công Th2 trình bày: Vào thời điểm tối ngày 29/8/2020, theo sự phân công của lãnh đạo Công an xã Xuân Cảnh, anh và đồng chí Th nhận nhiệm vụ đến hiện trường vụ tai nạn xảy ra tại thôn Hòa M, xã Xuân C để xác minh, bảo vệ hiện trường. Anh và đồng chí Th đều mặc đúng trang phục ngành khi thực hiện nhiệm vụ. Tại hiện trường anh thấy 01 xe loại xe sirius biển số 77G1-10366 đang nằm ở vị trí làn đường thứ 02 tính từ Tây sang Đông phần đường lưu hành phương tiện theo hướng Bắc – Nam và 01 xe mô tô loại exiter 150 biển kiểm soát 78D1 – 26671 đang nằm tại vị trí gần dãi phân cách cứng thuộc phần đường lưu hành của xe Bắc – Nam. Tình trạng giao thông tại phần đường có các xe tai nạn này không thể lưu thông được do ảnh hưởng của vị trí xe mô tô 77G1 – 10366 đang nằm. Thấy phương tiện giao thông không lưu thông được nên anh và đồng chí Th dùng gậy giao thông để phân luồng, hướng dẫn cho các xe lưu thông. Anh phụ trách phân luồng giao thông về hướng Bắc, cách vị trí hai xe bị tai nạn khoảng 50m nên khi sự việc xảy ra giữa đồng chí Th và bị cáo Th anh không trực tiếp chứng kiến nên không biết sự việc như thế nào.
Người làm chứng anh Võ Lê H trình bày: Vào tối ngày xảy ra sự việc, anh đang trên đường đi Xuân L về thấy vụ tai nạn giao thông xảy ra giữa 02 xe mô tô. Khi công an xã có mặt tại hiện trường vụ tai nạn thực hiện phân luồng điều tiết giao thông, anh thấy anh Th vẽ lại vị trí của xe mô tô BKS 77G1 – 103.66, sau đó anh Th dắt xe qua dựng tại lề đường của nhà hàng Bãi Tiên. Anh trực tiếp chứng kiến sự việc bị cáo Th lớn tiếng với anh Th, giằng co dắt xe mô tô BKS 77G1 – 103.66 ra tại vị trí ban đầu, anh Th không cho và giải thích cho bị cáo Th biết việc anh Th đã đánh dấu xe trước khi đưa vào nhằm điều tiết giao thông, tránh kẹt xe. Bị cáo Th không nghe, xô ngã xe mô tô BKS 77G1 – 103.66, tiếp tục có hành vi dùng tay nắm kéo cổ áo anh Th, sau đó giật mũ bảo hiểm anh Th đang đội đập xuống đất. Khi bị cáo Th còn đang giằng co với anh Th, anh quay người hút thuốc nên không chứng kiến sự việc bị cáo Th tát má phải anh Th. Sau đó, có 03 người đàn ông lạ mặt dắt xe ra đặt tại vị trí ban đầu nơi xảy ra tai nạn, bị cáo Th ngồi lên xe la hét, không cho cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ, các đồng chí cảnh sát giao thông giải thích, vận động một thời gian thì bị cáo Th mới rời xe đi.
Người làm chứng anh Huỳnh Ngọc T trình bày: Thời điểm xảy ra sự việc, anh được sự phân công của lãnh đạo Công an thị xã S cùng đồng nghiệp thực hiện nhiệm vụ giải quyết vụ tai nạn giao thông xảy ra tại thôn Hòa M, xã Xuân C. Khi anh có mặt tại hiện trường, anh thấy xe mô tô BKS 77G1 – 10366 ngã nằm ở giữa làn đường thứ 2 (tính từ Tây sang Đông) của phần đường phía Tây QL 1A, trên xe ô tô này có một người phụ nữ mặc quần màu đen, áo màu đỏ đang ngồi đè lên xe và người dân đứng tập trung xem xung quanh, khuyên can người phụ nữ này rời khỏi xe để công an làm việc (sau này anh mới biết người phụ nữ này chính là bị cáo Th); đồng thời có một xe mô tô BKS 78D1 – 26671 ngã nằm ở giữa làn đường thứ 3. Sau khi anh và đồng nghiệp tiến hành đặt rào chắn, khoanh vùng hiện trường, đặt báo hiệu, anh tìm hiểu sự việc thì biết vụ việc xảy ra giữa bị cáo Th và đồng chí Th. Anh cùng tổ công tác đến vị trí xe bị cáo Th đang ngồi, yêu cầu bị cáo rời khỏi xe để tổ công tác làm nhiệm vụ nhưng bị cáo Th không chấp hành, vẫn ngồi đè lên xe dẫn đến tổ công tác không khám nghiệm hiện trường được. Sau đó, anh quay đi tìm nhân chứng, khi quay trở lại xe bị tai nạn thì bị cáo Th vẫn không rời đi, anh và người dân tiếp tục nhiều lần khuyên bảo thì bị cáo Th mới rời khỏi hiện trường. Khi tổ công tác khám nghiệm hiện trường, đặt lại đúng vị trí 02 xe bị nạn như lúc đầu thì giao thông không lưu hành bình thường được, cụ thể xe nhỏ lưu thông bình thường nhưng xe lớn không lưu thông được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo tại Cáo trạng số 17/CT-VKSSC ngày 31/3/2021 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Th phạm tội “Chống người thi hành công vụ”. Áp dụng khoản 1 Điều 330; Điều 38; điểm i khoản 1 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Th từ 09 tháng – 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2021.
- Về vật chứng vụ án: Ghi nhận yêu cầu của anh Trần Duy Th, tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm ¾ đầu màu đen có nhãn hiệu Napoli Project 46 do anh Th không có nhu cầu sử dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Duy Th không yêu cầu bị cáo Th bồi thường nên không xem xét.
Trong phần tranh luận: Bị cáo không đồng ý với nội dung bản luận tội, bị cáo thừa nhận hành vi tự ý dắt xe là sai, nhưng bị cáo dắt xe nhằm giữ nguyên đúng hiện trường ban đầu để cho công an làm việc nên bị cáo không phạm tội Chống người thi hành công vụ. Bị cáo nói lời sau cùng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, các quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Cơ quan điều tra Công an thị xã S và Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã S trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng Lê Văn V, Lê Xuân Ph vắng mặt. HĐXX đã thực hiện lệnh dẫn giải nhưng không được. Do đó, HĐXX căn cứ lời khai của anh Lê Văn V, Lê Xuân Ph có tại hồ sơ vụ án, xét xử vắng mặt anh Lê Văn V, Lê Xuân Ph theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về tội danh: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Th không thừa nhận hành vi phạm tội chống người thi hành công vụ, không thừa nhận có hành vi xô xát, nắm kéo cổ áo, đánh má phải của đồng chí Th, không giật và đập mũ bảo hiểm của đồng chí Th. Tuy nhiên, tại biên bản ghi lời khai tại các bút lục từ 115 – 133 và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận khi bị cáo thực hiện hành vi dắt xe mô tô BKS 77G1-103.66 ra hướng lòng đường QL 1A, do đồng chí Th không cho nên bị cáo có hành vi xô đẩy, giằng co xe với đồng chí Th; thừa nhận có hành vi tự ý dắt xe mô tô BKS 77G1-103.66 đang để tại nhà hàng Bãi Tiên ra lại hiện trường nơi xảy ra tai nạn; thừa nhận khi đã dắt xe mô tô BKS 77G1-103.66 ra tại hiện trường nơi xảy ra tai nạn, bị cáo ngồi lên xe, đến khi đồng chí T vận động rời xe để tổ công tác làm việc, lúc đầu bị cáo không đồng ý, khoảng 05 phút sau bị cáo mới rời đi. Lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng có tại hồ sơ vụ án, khi những người làm chứng khẳng định thời điểm đồng chí Th đứng cạnh nhà hàng Bãi Tiên, bị cáo Th có hành vi đòi dắt xe mô tô BKS 77G1-103.66, lớn tiếng, la ó với đồng chí Th, nắm cổ áo đồng chí Th, dùng tay đánh đồng chí Th, giật và đập mũ bảo hiểm của đồng chí Th, bị cáo dắt xe mô tô BKS 77G1-103.66 ra lại hiện trường nơi xảy ra tai nạn và ngồi lên xe, đến khi tổ công tác làm nhiệm vụ, bị cáo Th không rời đi, tổ công tác giải thích, vận động thì khoảng 05 phút sau bị cáo Th mới chấp hành; phù hợp diễn biến sự việc theo lời khai của đồng chí Th; phù hợp diễn biến sự việc được ghi nhận tại video có độ dài 00 phút 35 giây và video có độ dài 02 phút 56 giây; phù hợp diễn biễn sự việc ghi nhận tại bản tự khai thừa nhận hành vi phạm tội do chính bị cáo tự viết, ký tên ngày 30/3/2021 (BL 227), theo đó bị cáo thừa nhận bị cáo thực hiện loạt chuỗi các hành vi tự ý dắt xe mô tô BKS 77G1-103.66 ra lại hiện trường, to tiếng, nắm cổ áo, tát vào mặt, giật và đập mũ bảo hiểm của đồng chí Thần, ngồi lên xe mô tô BKS 77G1-103.66.
Xét tại thời điểm xảy ra sự việc lúc 20 giờ 10 phút ngày 29/8/2020, đồng chí Th cùng đồng chí Nguyễn Công Th2 thực hiện nhiệm vụ đến hiện trường vụ tai nạn xảy ra tại QL 1A Thộc Thôn Hòa M, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên để xác minh, bảo vệ hiện trường theo sự phân công của lãnh đạo Công an xã Xuân Cảnh. Khi thực hiện nhiệm vụ, đồng chí Th mặc trang phục ngành công an đúng quy định. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, đồng chí Th chụp ảnh và dùng mảnh gạch vỡ đánh dấu vị trí xe mô tô BKS 77G1 – 103.66 rồi dắt xe này vào lề đường phía Đông (gần bảng hiệu nhà hàng Bãi Tiên) để đảm bảo an toàn cho các xe lưu hành và tránh ách tắc giao thông. Việc làm của đồng chí Th đúng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 7 Thông tư số 63/2020/TT-BCA ngày 19/6/2020 của Bộ Công an quy định quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ của Lực lượng Cảnh sát giao thông; đúng quy định tại Điều 3 và khoản 6 Điều 9 của Pháp lệnh Công an xã. Chuỗi hành vi của bị cáo Th gồm lớn tiếng, la ó với đồng chí Th, nắm cổ áo đồng chí Th, dùng tay đánh đồng chí Th, giật mũ và đập mũ bảo hiểm của đồng chí Th nhằm mục đích dắt xe bị tai nạn đặt lại tại hiện trường nơi xảy ra tai nạn; thực hiện hành vi tự ý dắt xe để lại vị trí tai nạn giao thông và ngồi lên xe, cản trở đồng chí Th đang thực thi nhiệm vụ là vi phạm khoản 3 Điều 8 Pháp lệnh Công an xã “3. Chống lại hoặc cản trở Công an xã thi hành nhiệm vụ”. Do đó, truy tố tại Cáo trạng số 17/CT-VKSSC ngày 31/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn giao thông, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, làm cản trở người thi hành công vụ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không chấp hành triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng, gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng Thộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên cần phải có mức án phù hợp, đảm bảo tính nghiêm minh để trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này trong tình hình xã hội hiện nay. Xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội xuất phát từ mục đích giữ nguyên hiện trạng ban đầu khi tai nạn xảy ra, vì bị cáo không hiểu biết pháp luật dẫn đến thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi lượng hình áp dụng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Các vật chứng Cơ quan CSĐT đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định nên không xem xét.
Ghi nhận yêu cầu của anh Trần Duy Th, tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm ¾ đầu màu đen có nhãn hiệu Napoli Project 46 do anh Th không có nhu cầu sử dụng. Vật chứng được ghi nhận tại Quyết định chuyển vật chứng số 12/QĐ-VKSSC ngày 31/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/3/2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã S và Chi cục thi hành án Dân sự thị xã S.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Duy Th không yêu cầu bị cáo Th bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 330; Điều 38; điểm i khoản 1 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị Th phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
2. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị Th 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 26/02/2021.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Đỗ Thị Th 45 (Bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm ¾ đầu màu đen có nhãn hiệu Napoli Project 46 theo Quyết định chuyển vật chứng số 12/QĐ-VKSSC ngày 31/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/3/2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã S và Chi cục thi hành án Dân sự thị xã S.
4. Về án phí: Bị cáo Đỗ Thị Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - Sở tư pháp Phú Yên; - VKSND TX. Sông Cầu; - VKSND tỉnh PY; - CSĐT Công an TX. Sông Cầu; - Chi cục THADS TX. Sông Cầu; - CQ THA HS TX.Sông Cầu; - Bị cáo, đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XƯ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Ngọc Tiên THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |