vanban.org

Bản án 22/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tri Tôn , tỉnh An Giang Tuyên án 06/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chau Đ-Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRI TÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 22/2021/HS-ST
Ngày: 06-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hừng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Văn Tài

2. Bà Vanh Si Tha

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Bà Néang Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2021, tại tr s Tòa án nhân dân huyện Tri T n, tỉnh An Giang, xét xử s th m c ng khai v án hình sự th lý số 18/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2021 theo Quy t định đưa v án ra xét xử số 16/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2021, đối với:

Bị cáo Chau Đ, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1993 tại huyện T, tỉnh A.

Đăng ký hộ kh u thường trú: Ấp PT, xã O, huyện T, tỉnh A; n i cư trú: Ấp PT, xã O, huyện T, tỉnh A; nghề nghiệp: Bu n bán; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; t n giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau P và bà Néang N; vợ: Néang C; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Kh ng; nhân thân: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-02-2021 cho đ n nay, bị cáo có m t.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thanh A -Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh An Giang (có m t).

Bị hại:

- Ông Trần Văn T, sinh năm 1986; n i cư trú: Ấp G, xã L, huyện T, tỉnh A (có m t).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Giang Quốc Th, sinh năm 1958; n i cư trú: Ấp T, xã N, huyện T,

tỉnh A (vắng m t);

- Bà Néang Chanh Đ, sinh năm 1987; n i cư trú: Ấp P, xã O, huyện T,

tỉnh A (có m t);

Người làm chứng

- Ông Bùi Văn K, sinh năm 1999 (có m t);

- Ông Phạm Tiền Ph, sinh năm 1988 (có m t);

- Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1959 (vắng m t);

- Ông Chau U, sinh năm 1953 (vắng m t);

Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Chau S, sinh năm 1947; n i cư trú:

Ấp PT, xã O, huyện T, tỉnh A (có m t).

NỘI DUNG V ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s v án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Mâu thuẫn phát sinh từ việc kh ng mua được nước đá của nhà máy nước đá Nhật Minh để bán lẻ lại cho các quán giải khát, Chau Đ nghĩ do Trần Văn T (tài x ch nước đá) cố tình kh ng giao nước đá cho Đ. Khoảng 00 giờ ngày 14/02/2021, Đ điều khiển xe m t 67M9-1617 đ n nhà Chau Ly Đ (ng ấp P A, xã O, huyện T), mượn 01 cây dao tự ch , Ly Đ hỏi làm gì, Đ th cho bi t chém Tân trả thù, Ly Đa đồng ý và lấy cây dao tự ch (cán dài 24 cm, lưỡi bằng kim loại dài 49 cm, n i rộng nhất 08 cm, n i hẹp nhất 05 cm) đưa cho Đ và lên ngồi sau xe m t cho Đ ch đi tìm T nhưng kh ng g p. Đ bi t thường ngày, T thức sớm giao nước đá nên cả hai ngồi đợi, đ n khoảng 05 giờ cùng ngày, Đ thấy T điều khiển xe t tải 67C-079.91 dừng trước nhà máy nước đá Nhật Minh (ng ấp TT, xã N, huyện T), Đ dùng tay phải cầm dao tự ch lại vị trí cửa xe bên tài x ngồi chém nhiều nhát làm vỡ kính chắn gió, Đ ti p t c chém 01 nhát vào bàn tay trái của Tân gây thư ng tích. Chém xong, Đ cầm dao lên xe m t cho Ly Đ điều khiển bỏ trốn, còn T được mọi người đưa đi cấp cứu.

Ngày 22/02/2021, Trần Văn T làm đ n yêu cầu kh i tố v án hình sự.

Ngày 22/02/2021, Đ đ n c quan C ng an đầu thú, đ n ngày 03/3/2021 Đ bị kh i tố và áp d ng biện pháp tạm giam. Riêng, Chau Ly Đ bỏ trốn, C quan Cảnh sát điều tra đã kh i tố, truy nã đối với Chau Ly Đ.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) cây dao tự ch dài 73 cm, cán dao tròn được quấn bằng băng keo màu đen, cán dao dài 24 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 49 cm, mũi bằng có 02 lỗ tròn gần mũi, thân dao có chữ “HÒA HẢO”, n i rộng nhất của lưỡi dao 08 cm, n i hẹp nhất 05 cm.

- 01 (một) xe m t hiệu FUSIN, biển kiểm soát 67M9-1617.

Theo Bản k t luận giám định pháp y về thư ng tích số 62/21/TgT ngày 19/02/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh An Giang đối với Trần Văn T ghi nhận:

V t thư ng m t lưng bàn tay đ n đốt giữa m t ngoài ngón II bàn tay trái, hình vòng cung kích thước 06 cm + 1,2 cm, bờ sắc gọn.

- Thấu khớp đốt gần ngón II bàn tay trái.

- Đứt gân duỗi ngón II bàn tay trái.

Tỷ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây nên hiện tại là 06%.

Theo K t luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐG.TTHS ngày 29/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự huyện Tri T n k t luận:

- Ốp nhựa chống thấm nước phía trên kính lái bên trái của xe t ISUZU, loại 5,1 tấn, kích thước (15 x 10) cm, trị giá 200.000 đồng.

- Kính chắn gió bên trái xe t ISUZU, loại 5,1 tấn, kích thước (80 x 90) cm, dày 05 mm, loại kính hạt lựu, trị giá 600.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản: 800.000 đồng.

Trong quá trình điều tra bị cáo Chau Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại Trần Văn Tân trình bày:

Giữa T và bị cáo Chau Đ kh ng có mâu thuẫn với nhau, hàng ngày Tân ph trách lái xe tải ch nước đá từ nhà máy nước đá Nhật Minh đi giao trong đó có nhà của Đ. Đ n khoảng 04 giờ 30 phút ngày 13/02/2021, Tân đi giao nước đá cho Đ, khi cách nhà Đ th khoảng 1,5 km thì có đám cưới che rạp ra ngoài đường, xe tải kh ng qua được, T điện thoại báo cho bà Đ (chủ nhà máy nước đá Nhật Minh), bà Đ kêu T gửi nước đá tại nhà ng Phước và Đ sẽ ra lấy, T làm theo lời bà Đ và sau đó điều khiển xe ti p t c đi giao nước đá cho những n i khác.

Đ n khoảng 05 giờ ngày 14/02/2021, Tân điều khiển xe m t tải 67C-079.91 đi giao nước đá vừa về đ n dừng trước nhà máy nước đá Nhật Minh thì g p Đ đi đ n vị trí cửa xe bên trái bên tài x ngồi và dùng tay phải cầm dao chém vào cửa kính 02-03 nhát làm cửa kính vỡ, T dùng tay trái nắm chốt cửa bên trong kéo lại, Đ dùng tay trái m cửa nhưng kh ng được và ti p t c đưa dao vào trong cửa kính bị vỡ chém 01 nhát trúng vào bàn tay trái của T, T truy hô lên thì Đ cầm dao lên xe m t cho Ly Đ điều khiển bỏ trốn.

T yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo và yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị bệnh trong thời gian nằm viện là 5.811.000 đồng, tiền c ng lao động bị mất thu nhập 02 tháng kh ng đi làm được là 30.000.000 đồng và tiền mất thu nhập của vợ T phải chăm sóc Tân trong thời gian nằm viện là 1.000.000 đồng. Tổng cộng yêu cầu bồi thường 36.811.000 đồng (ba mư i sáu triệu, tám trăm, mười một ngàn đồng).

Người có quyền lợi và nghĩa v liên quan đ n v án:

Ông Giang Quốc Th trình bày tại giai đoạn điều tra: Ông Th là chủ nhà máy nước đá Nhật Minh, xe m t tải 67C-079.91 là của ng do ng đứng tên chủ s hữu. Khoảng 05 giờ sáng ngày 14/02/2021 ng Th nghe ti ng ồn ào trước cửa nhà nên ra xem thì thấy bà Đ (vợ ng Th) đang băng v t thư ng bàn tay trái cho T và được Đ cho bi t Đ dùng dao chém vỡ kính chắn gió và chém vào tay Tân. Ông Th lại xem thì thấy xe m t tải 67C-079.91 bị vỡ v n hoàn toàn kính chắn gió bên trái, nên gọi điện trình báo c ng an và kêu người ch T đi cấp cứu. Ông Th đã sửa chữa thay kính chắn gió mới với số tiền là 2.600.000 đồng, gia đình bị cáo đã bồi thường 2.150.000 đồng nên yêu cầu bồi thường thêm số tiền 450.000 đồng (bốn trăm năm ch c ngàn đồng).

Néang Chanh Đ trình bày: Bà là vợ của bị cáo Chau Đ, sự việc Chau Đ đi chém T bà kh ng bi t, khi Đvề nhà có kể lại cho bà nghe việc chém T, bà có động viên Đđ n trình báo c ng an và Đ có kêu bà lấy tiền bồi thường cho ng Th, bà Chanh Đđã bồi thường cho ng Th số tiền 2.150.000 đồng, còn nợ lại số tiền 450.000 đồng, còn đối với T hiện nay vẫn chưa bồi thường. Riêng chi c xe mô tô 67M9-1617 là tài sản chung của bà và Chau Đ mua để ch nước đá đi bán và làm phư ng tiện đi lại trong gia đình, xe mua tại tiệm sửa xe cũ nhưng chưa sang tên, việc Đ lấy xe đi gây án bà kh ng bi t, bà yêu cầu được nhận lại xe.

Những người làm chứng Bùi Văn Kh, Phạm Tiền Ph, Nguyễn Thị Ngọc Đ, Chau U trình bày phù hợp nội dung v án.

Bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 28 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri T n truy tố bị cáo Chau Đ về tội “Cố ý gây thư ng tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận:

Bị cáo và T kh ng có mâu thuẫn với nhau nhưng khoảng 04 giờ 30 phút ngày 13/02/2021, T điều khiển xe tải đi giao nước đá cho bị cáo nhưng kh ng giao, do viện lý do gần nhà bị cáo có đám cưới che rạp ra ngoài đường, đường hẹp xe tải kh ng qua được, bị cáo có cho bà Đ bi t đi đường ph vẫn vào nhà bị cáo được, nhưng Tân lại cố tình kh ng giao cho bị cáo, làm bị cáo bị mất mối bán nước đá, bị cáo tức giận, quy t tìm Tân chém trả thù. Khoảng 00 giờ ngày 14/02/2021, bị cáo điều khiển xe m t 67M9-1617 đ n nhà Chau Ly Đ mượn 01 cây dao tự ch , Ly Đ hỏi làm gì, bị cáo cho bi t chém Tân trả thù, Ly Đ đồng ý và lấy cây dao tự ch (cán dài 24 cm, lưỡi bằng kim loại dài 49 cm, n i rộng nhất 08 cm, n i hẹp nhất 05 cm) đưa cho bị cáo và lên ngồi sau xe m t bị cáo ch Ly Đ đi tìm Tân nhưng kh ng g p. Bị cáo và Ly Đ ngồi đợi, đ n khoảng 05 giờ cùng ngày, thấy Tân điều khiển xe t tải 67C-079.91 dừng trước nhà máy nước đá Nhật Minh, bị cáo dùng tay phải cầm dao tự ch đi đ n vị trí bên trái cửa xe phía tài x ngồi, chém nhiều nhát làm vỡ kính chắn gió và đưa dao vào vị trí kính bị vỡ ti p t c chém 01 nhát vào người T gây thư ng tích bàn tay trái. Chém xong, bị cáo cầm dao lên xe m t cho Ly Đ điều khiển bỏ trốn, đ n ngày 22/02/2021 bị cáo ra đầu thú và giao nộp vật chứng gồm cây dao và xe m t 67M9-1617.

Bị cáo có kêu vợ là Néang Chanh Đ lấy tiền bồi thường cho ng Th được 2.150.000 đồng, còn về Tân đ n nay bị cáo vẫn chưa bồi thường. Đối với yêu cầu của bị hại yêu cầu bồi thường 36.811.000 đồng là quá cao, riêng số tiền sửa chữa kính xe còn thi u là 450.000 đồng ng Th yêu cầu bồi thường thêm, hai khoản này bị cáo kh ng đồng ý, đề nghị xem xét cho bị cáo bồi thường theo đúng quy định của pháp luật.

Đối với xe m t 67M9-1617 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo làm phư ng tiện sinh hoạt đi lại trong gia đình, việc bị cáo lấy xe đi gây án vợ bị cáo kh ng bi t, đề nghị xem xét trả lại xe cho vợ bị cáo.

Bị hại Trần Văn T, người có quyền lợi và nghĩa v liên quan đ n v án Néang Chanh Đ và người làm chứng Bùi Văn Kh, Phạm Tiền Ph khai như nội dung tại giai đoạn điều tra.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa v liên quan đ n v án và người tham gia tố t ng khác kh ng có ý ki n hay khi u nại gì về k t luận giám định thư ng tích và k t luận định giá tài sản.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền c ng tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quy t định truy tố bị cáo Chau Đ về tội “Cố ý gây thư ng tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, phân tích các tình ti t tăng n ng, giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp d ng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Chau Đ từ 09 tháng đ n 01 năm tù về tội “Cố ý gây thư ng tích”.

Đối với Chau Ly Đ đã bỏ trốn, C quan Cảnh sát điều tra kh i tố, truy nã và quy t định tách v án, khi bắt được sẽ xử lý theo quy định.

Riêng, Chau Đ còn thực hiện hành vi chém cửa kính xe t gây thiệt hại 800.000 đồng của Giang Quốc Th. Xét giá trị thiệt hại chưa đủ định lượng và nhân thân Chau Đ chưa có tiền án, tiền sự nên C quan Cảnh sát điều tra chuyển xử lý hành chính là phù hợp.

Về vật chứng của v án: Đề nghị áp d ng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự, xử lý:

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây dao tự ch dài 73 cm, cán dao tròn được quấn bằng băng keo màu đen, cán dao dài 24 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 49 cm, mũi bằng có 02 lỗ tròn gần mũi, thân dao có chữ “HÒA HẢO”, n i rộng nhất của lưỡi dao 08 cm, n i hẹp nhất 05 cm.

Tuyên trả lại 01 (một) xe m t hiệu FUSIN, biển kiểm soát 67M9-1617 cho bà Néang Chanh Đvì đây là phư ng tiện đi lại chung trong gia đình và bà Chanh Đ kh ng bi t việc bị cáo dùng xe đi gây án.

Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận các khoản tiền theo yêu cầu của bị hại gồm: Tiền chi phí điều trị bệnh trong thời gian nằm viện là 5.811.000 đồng, tiền mất thu nhập của vợ bị hại phải chăm sóc bị hại trong thời gian nằm viện là 1.000.000 đồng. Riêng số tiền c ng lao động bị mất thu nhập 02 tháng kh ng đi làm được là 30.000.000 đồng, do v t thư ng của bị hại bị đứt gân duỗi ngón II bàn tay trái cần thời gian nghỉ dưỡng nên khoảng thời gian 02 tháng bị hại yêu cầu là phù hợp, nhưng số tiền yêu cầu 30.000.000 đồng/02 tháng là quá cao, ngoài lời khai của bị hại và chủ sử d ng lao động là ng Giang Quốc Th thì kh ng có bảng lư ng hay hợp đồng lao động nào để xác định, trong khi mức thu nhập bình quân của các tài x lái xe t tải trên địa bàn huyện Tri T n chỉ dao động từ 10.000.000 đồng đ n 12.000.000 đồng, đề nghị xem xét chỉ chấp nhận bồi thường tiền c ng lao động bị mất thu nhập 02 tháng kh ng đi làm được với số tiền dao động mỗi tháng từ 10.000.000 đồng đ n 12.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu của ng Th, căn cứ theo K t luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐG.TTHS ngày 29/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự huyện Tri T n k t luận tổng giá trị thiệt hại tài sản tại thời điểm định giá chỉ có 800.000 đồng nhưng bị cáo đã tự nguyện bồi thường 2.150.000 đồng, xét số tiền bị cáo bồi thường đã lớn h n so với giá trị tài sản thiệt hại nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kh ng chấp nhận yêu cầu của ng Thắng đối với số tiền yêu cầu bị cáo bồi thường thêm là 450.000 đồng.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa:

Thống nhất nội dung cáo trạng, quan điểm luận tội và các tình ti t giảm nhẹ và quan điểm xử lý vật chứng vị đại diện Viện kiểm sát vừa nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp d ng thêm cho bị cáo các tình ti t giảm nhẹ như: Bị cáo là người dân tộc khmer sinh sống tại vùng có điều kiện kinh t xã hội đ c biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp nhận thức pháp luật có phần hạn ch , bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi con còn nhỏ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát kh ng chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa v liên quan đ n v án ng Giang Quốc Th buộc bị cáo bồi thường thêm số tiền 450.000 đồng vì số tiền bị cáo bồi thường đã lớn h n giá trị thiệt hại.

Về yêu cầu của bị hại đề nghị chấp nhận các khoản tiền gồm: Tiền chi phí điều trị bệnh trong thời gian nằm viện là 5.811.000 đồng, tiền mất thu nhập của vợ bị hại phải chăm sóc bị hại trong thời gian nằm viện là 1.000.000 đồng. Riêng số tiền c ng lao động bị mất thu nhập 02 tháng kh ng đi làm được của bị hại là 30.000.000 đồng, đề nghị kh ng chấp nhận vì việc bị hại kh ng đi làm là do ý muốn của bị hại kh ng theo chỉ định của bác sĩ, kh ng có giấy tờ chứng minh, bị hại có thể tự sinh hoạt, tự tìm việc khác làm để ki m sống nhưng kh ng chịu đi làm để bắt bị cáo bồi thường là kh ng hợp lý.

Bị hại Trần Văn T phát biểu tranh luận:

Kh ng đồng ý với ý ki n của Viện kiểm sát chỉ chấp nhận lư ng bị hại là từ 10.000.000 đồng đ n 12.000.000 đồng vì mức lư ng thực t của bị hại là 15.000.000 đồng, do chỉ thỏa thuận miệng với người sử d ng lao động nên kh ng có chứng cứ cung cấp cho Tòa án, bị hại là lái xe t tải được cấp giấy pháp lái xe hạng C làm việc liên t c từ 08 giờ tối đ n 08 giờ sáng, ngoài ra còn được giao nhiệm v bản quản và sửa chữa xe vì bị hại bi t sửa xe nên thu nhập mới cao, đề nghị chấp nhận cho bị hại mức lư ng 15.000.000 đồng/tháng đúng thực t thu nhập của bị hại.

Kh ng đồng ý với ý ki n của người bào chữa cho bị cáo vì thời gian bị hại nghỉ dưỡng 02 tháng là theo lời khuyên của bác sĩ do bị hại bị đứt gân duỗi ngón II bàn tay trái n u cử động sớm sẽ dễ dẫn đ n hoại tử nên cần thời gian để ph c hồi từ từ phải nghỉ dưỡng 02 tháng mới dám đi làm lại, đề nghị xem xét cho bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý ki n đối đáp tranh luận:

Đối với ý ki n của người bào chữa cho rằng việc bị hại nghỉ dưỡng 02 tháng là do ý của bị hại là kh ng chính xác vì thư ng tích của bị hại là ảnh hư ng đ n gân, tuy đã phẫu thuật nối gân nhưng cũng cần thời gian nghỉ dưỡng và 02 tháng là thời gian hợp lý để đảm bảo ổn định sức khỏe tránh di chứng về sau.

Đối với số tiền lư ng bị hại khai nhận là 15.000.000 đồng/tháng nhưng kh ng cung cấp được chứng cứ nên Viện kiểm sát đề nghị xem xét mức 10.000.000 đồng đ n 12.000.000 đồng theo mức thu nhập khảo sát của các tài x lái xe tải trên địa bàn huyện Tri T n là phù hợp, đã có tính đ n tính chất c ng việc làm đêm của bị hại, đề nghị chỉ chấp nhận mức từ 10.000.000 đồng đ n 12.000.000 đồng.

Người bào chữa cho bị cáo đối đáp tranh luận: Thống nhất cho bị hại thời gian nghỉ dưỡng là 02 tháng nhưng tiền c ng lao động đề nghị xem lại chỉ tính theo mức lư ng tối thiểu vùng 4 đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp là 2.450.000 đồng, kh ng áp d ng theo mức thu nhập trung bình của các tài x xe tải trên địa bàn huyện Tri T n như Viện kiểm sát đề nghị, muốn áp d ng phải có Th ng tư hướng dẫn áp d ng.

Trong phần tranh luận, bị cáo kh ng tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quy t định truy tố, quan điểm luận tội của Viện kiểm sát và lời bào chữa của người bào chữa kh ng có ý ki n khác.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên c s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quy t định tố t ng của C quan điều tra C ng an huyện Tri T n, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri T n, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Do đó, các hành vi, quy t định tố t ng của C quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Sự vắng m t của người có quyền lợi nghĩa v liên quan đ n v án gồm Giang Quốc Th và những người làm chứng Nguyễn Thị Ngọc Đ, Chau U đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng m t. Tuy nhiên, việc vắng m t của những người tham gia tố t ng này kh ng gây tr ngại cho việc xét xử và đã có lời khai được làm rõ tại c quan điều tra. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quy t định vẫn ti n hành xét xử.

2 Về nội dung: Xét thấy, tại phiên tòa lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời bị cáo đã khai nhận trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ s v án đã được th m tra tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa v liên quan đ n v án, người làm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 14/02/2021, Bản k t luận giám định pháp y về thư ng tích số 62/21/TgT ngày 19/02/2021, Bản K t luận định giá tài sản số 18/KL-HDĐG.TTHS ngày 29/3/2021 và các vật chứng, tài liệu, chứng cứ khác qua điều tra thu giữ được.

Hội đồng xét xử, có đủ c s k t luận: Khoảng 05 giờ ngày 14/02/2021 tại nhà máy nước đá Nhật Minh thuộc ấp TT, xã N, huyện T, tỉnh A, bị cáo Chau Đ đã thực hiện hành vi dùng tay phải cầm dao tự ch cán dài 24 cm, lưỡi bằng kim loại dài 49 cm, n i rộng nhất 08 cm, n i hẹp nhất 05 cm đi đ n cửa xe bên trái bên tài x ngồi chém nhiều nhát làm vỡ kính chắn gió và ti p t c chém 01 nhát vào trúng bàn tay trái của Tân gây thư ng tích, tỷ lệ tổn thư ng c thể là 06% (sáu phần trăm), trong khi giữa bị cáo và bị hại kh ng trực ti p phát sinh mâu thuẫn. Dao là loại hung khí nguy hiểm nên cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri T n truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thư ng tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng dao chém vào bị hại sẽ gây nên thư ng tích, ảnh hư ng đ n sức khỏe của bị hại, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo thực hiện hành vi một cách rất dứt khoát, táo bạo dù bị hại đang ngồi trong xe t tải cửa xe được khóa ch t, nhưng bị cáo vẫn cư ng quy t thực hiện đ n cùng chém nhiều nhát cho vỡ cửa kính và đưa dao vào trong, chém cho trúng nhằm gây thư ng tích cho bị hại. Đáng chú h n, giữa bị cáo và bị hại kh ng có mâu thuẫn mà còn là bạn bè từng làm việc chung trong nhà máy, nhưng chỉ vì bị cáo nghĩ rằng bị hại cố tình kh ng giao nước đá cho bị cáo, ảnh hư ng đ n thu nhập của bị cáo, mà bị cáo đã kh ng do dự đi đ n nhà Chau Ly Đ tìm mượn hung khí để gây án, bị cáo cư ng quy t thực hiện đ n cùng, sẵn sàng ngồi đợi g p cho được bị hại để chém. Điều này, thể hiện tính chất c n đồ, hung hăng của bị cáo xem thường pháp luật, xem thường sức khỏe của người khác, sẵn sàng v cớ dùng vũ lực để giải quy t mâu thuẫn bất chấp hậu quả xảy ra.

[3 Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội kh ng những xâm phạm trực ti p đ n sức khỏe của bị hại mà còn ảnh hư ng xấu đ n tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phư ng. Sức khỏe của con người là vốn quý, được pháp luật t n trọng và bảo vệ, bị cáo nhận thức được điều đó, nhưng bị cáo lại cố ý thực hiện hành vi xâm phạm trực ti p đ n sức khỏe người khác. Vì vậy, cần phải áp d ng một ch tài hình phạt tư ng xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo d c, cải tạo bị cáo sớm tr thành người c ng dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[3 Về tình ti t giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thể hiện thái độ thành kh n khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đầu thú về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống vùng có điều kiện kinh t xã hội đ c biệt khó khăn, đồng thời là lao động chính trong gia đình, học vấn thấp am hiểu pháp luật có phần hạn ch . Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử có cân nhắc xem xét áp d ng cho bị cáo các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4 Về tình ti t tăng n ng: Bị cáo kh ng có tình ti t tăng n ng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đối với Chau Ly Đ đã bỏ trốn, C quan Cảnh sát điều tra đã ban hành quy t định kh i tố bị can số 35/QĐ-CQĐT ngày 20/5/2021, Quy t định truy nã bị can số 02/QĐ-CQĐT ngày 20/5/2021 và quy t định tách v án hình sự số 01/QĐ-CQĐT ngày 22/5/2021, khi bắt được sẽ xử lý theo quy định là phù hợp.

Đối với hành vi bị cáo thực hiện chém cửa kính xe t 67C-079.91 của ng Giang Quốc Th gây thiệt hại trị giá 800.000 đồng. Xét giá trị thiệt hại chưa đủ định lượng và nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên C quan Cảnh sát điều tra chuyển xử lý hành chính là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại:

Hội đồng xét xử thấy:

Đối với yêu cầu của bị hại gồm các khoản tiền chi phí điều trị bệnh trong thời gian nằm viện là 5.811.000 đồng, tiền mất thu nhập của vợ bị hại phải chăm sóc bị hại trong thời gian nằm viện là 1.000.000 đồng và tiền c ng lao động bị hại bị mất thu nhập 02 tháng đây là các khoản thiệt hại do sức khỏe bị hại bị xâm phạm b i hành vi trái pháp luật của bị cáo và phù hợp với quy định tại các Điều 584, 590 Bộ luật Dân sự nên được chấp nhận.

Tuy nhiên, số tiền c ng lao động bị hại bị mất thu nhập 02 tháng là 30.000.000 đồng là quá cao, vì ngoài lời khai nhận của bị hại và được người sử d ng lao động là ng Giang Quốc Th xác nhận ra thì kh ng có bất kỳ chứng cứ nào như bảng lư ng, hợp đồng lao động nên kh ng có c s chấp nhận mức tiền lư ng là 15.000.000 đồng/tháng. Bên cạnh đó, ng Th là người có quyền lợi nghĩa v liên quan đ n v án bị chính hành vi của bị cáo gây thiệt hại và có yêu cầu bồi thường nên tính khách quan trong lời khai của ng Th kh ng đảm bảo.

Xét ý ki n của Kiểm sát viên đề nghị xem xét mức tiền lư ng là từ 10.000.000 đồng đ n 12.000.000 đồng và ý ki n của người bào chữa đề nghị xem xét mức lư ng tối thiểu vùng 4 đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp là 2.450.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận định, mức lư ng người bào chữa cho bị cáo đề nghị là mức lư ng thấp nhất bắt buộc khi giao k t hợp đồng lao động doanh nghiệp phải đảm bảo chi trả cho người lao động, theo quy định tại Điều 13, 15 Bộ luật Lao động khi giao k t hợp đồng lao động người lao động và người sử d ng lao động có quyền tự thỏa thuận về việc làm và tiền lư ng kh ng trái với pháp luật, đạo đức xã hội, bị hại và người sử d ng lao động có thể tự do thỏa thuận mức tiền lư ng nên đề nghị của người bào chữa áp mức tiền lư ng là 2.450.000 đồng xem xét bồi thường cho bị hại là kh ng phù hợp.

Do đ c thù c ng việc của bị hại là tài x xe tải, được cấp giấy phép lái xe hạng C làm việc liên t c từ 08 giờ tối đ n 08 giờ sáng nên mức lư ng chi trả cần được xác định theo mức thu nhập trung bình của những tài x xe tải cùng loại trên địa bàn huyện T để tính thiệt hại là phù hợp với quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự, ý ki n đề nghị của Kiểm sát viên được chấp nhận. Hội đồng xét xử chấp nhận mức lư ng làm c s xác định bồi thường thiệt hại cho bị hại là 11.000.000 đồng/tháng. Vậy tổng thiệt hại bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại là 28.811.000 đồng (gồm 5.811.000 đồng tiền chi phí điều trị, 1.000.000 đồng tiền mất thu nhập thực t của người chăm sóc bị hại, 22.000.000 đồng tiền c ng lao động bị hại bị mất thu nhập 02 tháng).

Đối với yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa v liên quan đ n v án Giang Quốc Th, căn cứ theo K t luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐG.TTHS ngày 29/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự huyện Tri T n k t luận tổng giá trị thiệt hại tài sản tại thời điểm định giá chỉ có 800.000 đồng nhưng bị cáo đã tự nguyện bồi thường 2.150.000 đồng, xét số tiền bị cáo bồi thường đã lớn h n so với giá trị tài sản thiệt hại xảy ra nên Hội đồng xét xử kh ng chấp nhận yêu cầu của ng Th yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 450.000 đồng.

7 Về vật chứng của v án:

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, cần tuyên bố tịch thu tiêu hủy c ng c , phư ng tiện dùng vào việc phạm tội là 01 (một) cây dao tự ch dài 73 cm, cán dao tròn được quấn bằng băng keo màu đen, cán dao dài 24 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 49 cm, mũi bằng có 02 lỗ tròn gần mũi, thân dao có chữ “HÒA HẢO”, n i rộng nhất của lưỡi dao 08 cm, n i hẹp nhất 05 cm.

Đối với 01 (một) xe m t hiệu FUSIN, biển kiểm soát 67M9-1617 qua điều tra xác định được là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, dùng để làm phư ng tiện di chuyển sinh hoạt chung trong gia đình, việc bị cáo dùng xe m t đi gây án, vợ bị cáo Néang Chanh Đ kh ng bi t nên cần tuyên trả lại xe m t hiệu FUSIN, biển kiểm soát 67M9-1617 cho bà Néang Chanh Đ là phù hợp.

[8] Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống vùng có điều kiện kinh t -xã hội đ c biệt khó khăn, có đ n xin miễn án phí, Hội đồng xét xử, xét miễn án phí hình sự s th m và án phí dân sự s th m cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa v liên quan đ n v án ng Giang Quốc Th phải chịu án phí dân sự s th m đối với yêu cầu số tiền 450.000 đồng kh ng được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Tuyên bố bị cáo Chau Đ phạm tội “Cố ý gây thư ng tích”.

Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Chau Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 22-02-2021 (ngày hai mư i hai, tháng kh ng hai, năm hai nghìn kh ng trăm hai mư i mốt).

Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 584, 590 Bộ luật Dân sự; điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quy t 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng th m phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Trần Văn T số tiền 28.811.000 đồng (hai mư i tám triệu, tám trăm, mười một nghìn đồng).

Kh ng chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa v liên quan đ n v án Giang Quốc Th yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 450.000 đồng (bốn trăm, năm ch c ngàn đồng).

Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đ n khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Căn cứ vào các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây dao tự ch dài 73 cm, cán dao tròn được quấn bằng băng keo màu đen, cán dao dài 24 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 49 cm, mũi bằng có 02 lỗ tròn gần mũi, thân dao có chữ “HÒA HẢO”, n i rộng nhất của lưỡi dao 08 cm, n i hẹp nhất 05 cm.

Tuyên trả lại cho bà Néang Chanh Đ 01 (một) xe m t hiệu FUSIN, biển kiểm soát 67M9-1617.

(vật chứng do Chi c c thi hành án dân sự huyện Tri T n quản lý, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31-5-2021 giữa C quan cảnh sát điều tra C ng an huyện Tri T n với Chi c c thi hành án dân sự huyện Tri T n).

Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố t ng Hình sự; Điều 147 Bộ luật Tố t ng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26 Nghị quy t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường v Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Chau Đ th được miễn án phí hình sự s th m và án phí dân sự s th m.

Người có quyền lợi nghĩa v liên quan đ n v án ng Giang Quốc Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự s th m.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa v liên quan đ n v án có quyền kháng cáo. Trường hợp vắng m t được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án ho c được niêm y t.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự .

Cỡ chữ