vanban.org

Bản án 22/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang Tuyên án 20/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chau P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Chau P 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 21/04/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Chau P phạm tội "cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chau P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
––––––––––––
Bản án số: 22/2021/HS-ST
Ngày: 20-09-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Châu Nam Phú

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Hoàng;

Ông Nguyễn Lâm Tới.

- Thư ký phiên tòa: ông Châu Kim Sol - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Kiều - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 09 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 09 năm 2021, đối với:

1. Họ và tên: Chau P, tên gọi khác: không, giới tính: nam, sinh năm: 1996. Nơi cư trú: Ấp P1, xã A, huyện T, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; Tôn giáo: đạo phật; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; cha tên Chau P1, sinh năm 1961 và mẹ tên Neàng T, sinh năm 1973. Anh, em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ ba.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo Chau P bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 21/4/2021 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Tịnh Biên cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Chau P: có Luật sư Nguyễn Thị Bạch X – Luật sư của Văn phòng Luật sư Thanh Bạch thuộc Đoàn Luật sư tỉnh An Giang, vắng mặt.

2. Người bị hại:

Anh Chau Rích T1, sinh năm 1983. Nơi cư trú: ấp P1, xã A, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.

3. Những người làm chứng:

3.1. Bà Nèang G, sinh năm 1956. Nơi cư trú: tổ 03, ấp P1, xã A, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;

3.2. Anh Chau Ư, sinh năm 1984. Nơi cư trú: ấp P1, xã A, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;

3.3. Chị Nèang T2, sinh năm 1973. Nơi cư trú: ấp P1, xã A, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;

3.4. Anh Chau H, sinh năm 1987. Nơi cư trú: ấp P1, xã A, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;

3.5. Anh Chau Sóc Khum, sinh năm 1980. Nơi cư trú: ấp P1, xã An Cư, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;

3.6. Anh Chau Sôm, sinh năm 1990. Nơi cư trú: ấp P1, xã A, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

4. Người phiên dịch: ông Chau Xi N, phiên dịch viên ký hợp đồng với Phòng tư pháp huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 18 giờ ngày 15/6/2020, Chau P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 67M5 – 6434 đến nhà Chau Ươnl tại ấp P1, xã A, huyện T uống rượu và hát karaoke cùng với Ưl, Chau H, Chau Rích T1, Chau Sóc K và Chau S. Trong lúc uống rượu, P và T1 cự cãi về việc hát karaoke, P tức giận điều khiển xe 67M5 – 6434 về nhà lấy cây lưỡi hái, rồi quay trở lại nhà Ư đi đến chỗ T1 đang ngồi và dùng lưỡi hái chém 01 nhát trúng vào lưng của T1, được mọi người can ngăn. T1 liền chạy về nhà lấy cây dao tự chế, rồi trở lại nhà Ư dùng dao đập xe 67M5 – 6434 của P đang đựng gần nhà của Ư gây hư hỏng. Thấy vậy, P cầm lưỡi hái đi đến xông vào chém nhau với T1, hậu quả T1 bị thương tích ở lưng trái và đùi trái, còn P bị thương tích ở ngực trái và cánh tay trái.

Qua sự việc, Chau Rích T1 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Chau P, còn P có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với T1.

Ngày 23/10/2020, Chau P bị khởi tố, điều tra.

* Căn cứ Bản kết luận giám định thương tích, số 294/20/TgT ngày 28/7/2020 và Công văn số 46/TLo – TTPY, ngày 18/8/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, kết luận: Chau Rích T1, sinh năm 1983, địa chỉ: Ấp P1, xã A, huyện T, tỉnh An Giang.

+ Tỷ lệ tổn thương cơ thể do từng thương tích gây nên hiện tại là: Sẹo lưng trái đường nách sau kích thước 10.5 x 0.4cm + đuôi 07 x 0.1 cm (đường nách giữa), sắc gọn, tràn khí màng phổi trái – đã phẫu thuật dẫn lưu + sẹo dẫn lưu màng phổi trái, kích thước 03x0.3cm đường nách giữa liên sườn V – VI: 11%; Sẹo lưng trái, kích thước 18.5 x 0.2cm, sắc gọn, phẳng, cách vết 1 09cm 01%; Sẹo lưng trái kích thước 02x 0.2cm, sắc gọn 01%; Sẹo mặt trước 1/3 trên đùi trái kích thước 02 x 0.3cm, sắc gọn 01%.

+ Tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 14%;

+ Kết luận khác: Thương tích do vật sắc nhọn gây nên.

* Căn cứ Bản kết luận giám định thương tích, số 228/21/TgT ngày 19/5/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, kết luận: Chau P, sinh năm 1996, địa chỉ: Ấp P1, xã A, huyện T, tỉnh An Giang.

+ Tỷ lệ tổn thương cơ thể do từng thương tích gây nên hiện tại là: Sẹo ngực trái, kích thước 3.5 x 0.5 cm, thẳng, bờ sắc gọn: 02%, thương tích do vật sắc gây nên; Sây sát để lại vết biến đổi sắc tố da mặt sau trong 1/3 dưới cánh tay trái, kích thước 04 x 3.5 cm: 0.5%, thương tích do vật sắc gây nên; Sây sát để lại vết biến đổi sắc tố da mặt trong 1/3 dưới cẳng tay trái, kích thước 2.5 x 01cm: 0.5%, thương tích do vật tày gây nên.

+ Tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 03 %;

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tịnh Biên thu giữ: 01 cây lưỡi hái dài 56cm, cán bằng gỗ dài 16cm, bề hoành 10.5 cm, lưỡi bằng kim loại dài 40cm, nơi rộng nhất 2.5cm, mũi nhọn bị cong; 01 cây dao có chiều dài 80.5cm, cán bằng gỗ dài 52cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 28.5cm, bề hoành 09cm, lưỡi rộng nhất 07cm; 01 cái áo thun ngắn tay màu đỏ bị rách dài có vết màu nâu đỏ; 01 cái quần thun ngắn, màu xám có sọc màu đỏ hai bên, có dấu vết màu nâu đỏ; 01 chiếc xe mô tô biển số 67M5 – 6434, màu sơn Xanh, nhãn hiệu Warm, số máy 314375, số khung 314375, xe đã qua sử dụng.

- Ngày 12/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tịnh Biên đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Chau P để điều tra, về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Cáo trạng số 21 ngày 26/08/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên truy tố bị cáo Chau P về tội “cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;

1. Lời khai của bị hại và người làm chứng: Chau T1, Neàng G, Chau Ư, Neàng T2, Chau S, Chau H và Chau Sóc K trình bày phù hợp nội dung vụ án.

Ngoài ra, người bị hại anh Chau Rích T1 trình bày: Về trách nhiệm hình sự, người bị hại yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật; về trách nhiệm dân sự thì gia đình đã nhận tiền khắc phục là 1.500.000đ. Nay bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại thêm với số tiền 11.250.000đ (mười một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

2. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Chau P đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra, P không yêu cầu xử lý hình sự đối với T1, không yêu cầu T1 bồi thường chi phí điều trị thương tích và không yêu cầu bồi thường thiệt hại của xe 67M5 – 6434 do Thi gây ra.

- Lời nói sau cùng của bị cáo Chau P: bị cáo biết lỗi bị hại, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sửa chữa bản thân thành công dân có ích cho xã hội và kiếm tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại; về trách nhiệm dân sự, bị cáo Chau P đồng ý bồi thường số tiền 11.250.000đ (mười một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

- Hình phạt chính: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Chau P từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử lý vật chứng thu giữ: Căn cứ Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

+ Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng, không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 cây lưỡi hái; 01 cây dao; 01 cái áo thun ngắn tay và 01 cái quần thun ngắn;

+ Trả lại cho bị cáo Chau P: 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 67M5 – 6434, màu sơn Xanh, nhãn hiệu Warm, số máy 314375, số khung 314375, xe đã qua sử dụng, không liên quan hành vi phạm tội.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự: công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại, theo đó bị cáo tiếp tục phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm cho người bị hại là 11.250.000đ (mười một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hợp pháp.

Sự vắng mặt của những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa, tuy nhiên những người tham gia tố tụng này đều đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra, được thể hiện trong hồ sơ vụ án; Luật sư bào chữa cho bị cáo vắng mặt, tuy nhiên bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 291, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị cáo Chau P bị Cơ quan điều tra - Công an huyện Tịnh Biên khởi tố về hành vi “cố ý gây thương tích” do bị cáo thực hiện trên địa bàn huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.

- Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Chau P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiêm sát đã nêu, bị cáo thừa nhận hành của mình là vi phạm pháp luật nên Viện kiểm sát tuy tố bị cáo không oan; lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và những người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: đây là vụ cố gây thương tích xảy ra lúc 18 giờ ngày 15/6/2020 tại nhà Chau Ư tại ấp P1, xã A, huyện T tổ chức uống rượu và hát karaoke cùng với Ư, Chau H, Chau Rích T1, Chau Sóc K và Chau S. Trong lúc uống rượu, P và T1 cự cãi về việc hát karaoke, P tức giận điều khiển xe 67M5 – 6434 về nhà lấy cây lưỡi hái, rồi quay trở lại nhà Ư đi đến chỗ T1 đang ngồi và dùng lưỡi hái chém 01 nhát trúng vào lưng của T1, được mọi người can ngăn; T1 liền chạy về nhà lấy cây dao tự chế, rồi trở lại nhà Ư dùng dao đập xe 67M5 – 6434 của P đang đựng gần nhà của Ư gây hư hỏng. Thấy vậy, P cầm lưỡi hái đi đến xông vào chém nhau với T1, hậu quả T1 bị thương tích ở lưng trái và đùi trái với tỷ lệ thương tích trên cơ thể là 14%, còn T1 bị thương tích ở ngực trái và cánh tay trái với tỷ lệ 3%.

Với hành vi dùng dao lưởi hái (là hung khí nguy hiểm) gây thương tích cho bị hại 14% nêu trên, bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét bị cáo Chau P không có mâu thuẫn gì trước với bị hại, chỉ vì cự cãi về việc hát karaoke, giật micro từ việc làm của bị hại mà bị cáo dùng khung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ 14%. Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác vốn được pháp luật bảo vệ, vụ án gây ra đã gây hoang mang, bất bình trong nhân dân, nơi đồng bào dân tộc Khmer sinh sống, đồng thời gây mất trực tự, trị an, làm ảnh hưởng đến sự an toàn của xã hội. Do đó, cần phải xử lý vụ án nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo, cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

- Bị cáo Chau P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo xuất thân từ thành phần lao động nghèo, sống vùng có kinh tế khó khăn, có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015: Xét thấy, tại phiên tòa giữa bị cáo Chau P và bị hại Chau Ríth T1 đã thỏa thuận được mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm, theo đó bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại cho người bị hại với số tiền 11.250.000đ (mười một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng và trả lại xe mô tô cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Những vấn đề khác:

Đối với, Chau Rích T1 có hành vi dùng dao gây thương tích cho Chau P với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 03% và dùng dao cố ý làm hư hỏng xe mô tô biển kiểm soát 67M5 - 6434 của Chau P, trị giá thiệt hại là 440.000 đồng. Do P không yêu cầu xử lý hình sự đối với T1 về hành vi cố ý gây thương tích và hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của T1 chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tịnh Biên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T1 và chuyển cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ pháp luật.

Từ những nhận xét nêu trên cũng như qua tranh luận tại phiên tòa. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng quy định, vì vậy đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Chau P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 562.500đ (năm trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chau P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Chau P 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 21/04/2021.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 585, 586, 587 và Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015:

Bị cáo Chau P có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức cho người bị hại Chau Rích T1 số tiền 11.250.000đ (mười một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về xử lý vật chứng: Áp đụng Điều46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

4.1. Tịch thu tiêu hủy gồm:

- 01 (một) cây lưỡi hái dài 56cm, cán bằng gỗ dài 16cm, bề hoành 10.5 cm, lưỡi bằng kim loại dài 40cm, nơi rộng nhất 2.5cm, mũi nhọn bị cong;

- 01 (một) cây dao có chiều dài 80.5cm, cán bằng gỗ dài 52cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 28.5cm, bề hoành 09cm, lưỡi rộng nhất 07cm;

- 01 (một) cái áo thun ngắn tay màu đỏ bị rách dài có vết màu nâu đỏ;

- 01 (một) cái quần thun ngắn, màu xám có sọc màu đỏ hai bên, có dấu vết màu nâu đỏ;

4.2. Trả lại cho bị cáo Chau P.

- 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 67M5 – 6434, màu sơn Xanh, nhãn hiệu Warm, số máy 314375, số khung 314375, xe đã qua sử dụng.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07 tháng 09 năm 2021 giữa Cơ quan Điều tra Công an huyện Tịnh Biên với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên).

5. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 21; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Buộc bị cáo Chau P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự sơ thẩm là 562.500đ (năm trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng).

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ