vanban.org

Bản án 22/2021/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 12/01/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/01/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hai D. Giữ nguyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Hai D Tử hình về tội "Vận chuyển trái pháp chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo theo quyết định của Hội đồng xét xử để đảm bảo việc thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Hai D - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hai D. Giữ nguyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2021/HS-PT
Ngày 12 tháng 01 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Thu Hương

Các Thẩm phán:

Ông Đỗ Đình Thanh

Ông Đặng Văn Ý

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thanh Trúc, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hồng Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 453/2020/HSPT-TL ngày 11 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo Hai D do có kháng cáo của bị cáo Hai D đối với bản án hình sự sơ thẩm số 25/2020/HSST ngày 31/7/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị:

Hai D, sinh ngày 03 tháng 10 năm 1993; Nơi sinh: Campuchia. Nơi cư trú: ấp C, phường P, quận T, thành phố P1, Campuchia; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Khmer; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch; Campuchia; con ông Hun H, sinh năm 1941 và bà Xua T1, sinh năm 1950 (đã chết); chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: không có.

Bị bắt tạm giam từ ngày 27/10/2019. (có mặt).

Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo: Bà Trần Thị Đức H1– Luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).

Người bào chữa (chỉ định) cho bị cáo: Ông Đỗ Hải B – Luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).

Người phiên dịch: Bà Le M- Phiên dịch viên. Nơi làm việc: Công ty đào tạo - công nghệ - dịch thuật chuyên nghiệp 123 Việt Nam (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 27/10/2019, qua máy soi hành lý tại Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài tỉnh Tây Ninh, Việt Nam, cơ quan chức năng phát hiện hành khách nhập cảnh tên Hai D, sinh năm 1993, cư trú tại ấp C, phường P, quận T, thành phố P1, Campuchia, quốc tịch Campuchia, mang theo một valy màu đen, bên trong có 5 bịch quấn băng keo màu trắng, tiến hành kiểm tra bên trong có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M). Qua xét nghiệm nhanh xác định đó là chất ma túy nên đã bắt người trong trường hợp quả tang, thu giữ vật chứng và tài sản của Hai D.

Tại Kết luận giám định số 1605/KL-KTHS ngày 30/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh xác định: Mẩu tinh thể màu trắng bên trong 5 bịch quấn băng keo màu trắng (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 4925,2077 gam ( bốn chín hai lăm phẩy hai không bảy bảy gam).

Kết quả điều tra xác định ma túy do Hai D mang theo khi nhập cảnh vào Việt Nam có nguồn gốc từ Campuchia, do người đàn ông da đen, gốc Phi tên X (không rõ nhân thân, địa chỉ) thuê Hai D vận chuyển vào Việt Nam để giao cho một người tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, cụ thể như sau:

Hai D và X quen nhau từ năm 2017 và chung sống với nhau như vợ chồng tại thành phố P1, Campuchia. Ngày 27/10/2019, X thuê Hai D vận chuyển một valy bên trong có chứa chất ma túy với số tiền 150USD và hứa hẹn sẽ mua xe mô tô mới cho Hai D sau khi giao xong valy cho người nhận tại khu vực khách sạn N, đường P2, Phường 12, quận G, thành phố Hồ Chí Minh, sau khi trở về Camphuchia, X sẽ cho người đến nhận valy khi Hai D đến thành phố Hồ Chí Minh và điện thoại cho X. Hai D đồng ý và đi xe khách từ thành phố P1, Campuchia mang theo một valy do X giao để nhập cảnh vào Việt Nam. Khi đến Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh làm thủ tục nhập cảnh và kiểm tra hành lý thì bị phát hiện bắt quả tang trong valy có chứa ma túy.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2020/HSST ngày 31/7/2020 Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã xử

Tuyên bố bị cáo Hai D phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hai D Tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc

2

thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/8/2020, bị cáo Hai D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hai D vẫn giữ nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:

Tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được thực hiện quyền và nghĩa vụ và người phiên dịch thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định. Xem xét, nhận định toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2020/HSST ngày 31/7/2020 Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã xét xử bị cáo Hai D về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” với mức hình phạt Tử hình là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên tội danh và hình phạt đã được quyết định trong bản án sơ thẩm.

Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo - Luật sư Trần Thị Đức H1 trình bày: Sau khi tóm tắt lại toàn bộ nội dung vụ án, quyết định của án sơ thẩm, đơn kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo không biết có ma túy trong va ly vận chuyển, bị cáo bị lừa chỉ nghĩ là vận chuyển quần áo. Bị cáo là người nước ngoài. Về tội danh, luật sư thống nhất quan điểm với Viện kiểm sát. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo thật thà khai báo. Nguyên nhân phạm tội do gia đình khó khăn, nghèo, mẹ mất sớm, cha bị bệnh. Bị cáo tin tưởng vào bạn nên không nghi ngờ vận chuyển va ly có chứa chất ma túy và bị bắt quả tang. Bạn trai là X hứa cho chỗ ở tốt hơn và mua xe mới chỉ phục vụ cho cuộc sống chung tốt hơn. X là chủ mưu. Hai D chỉ là nạn nhân, không biết chữ, nhận thức pháp luật hạn chế, không nghiện heroin. Bị cáo không có động cơ vận chuyển ma túy để phục vụ cho yêu cầu cá nhân. Bị cáo thừa nhận hành vi tại cơ quan điều tra biết có ma túy vì điều tra xét hỏi nếu không trả lời thì không được gặp gia đình nên bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội đã biết trước có ma túy khi vận chuyển. Tại Campuchia không có mức án từ hình, phiên tòa hôm nay có Lãnh sự quán tham gia, để thực hiện nguyên tắc có đi có lại, kính mong Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị áo, sửa án sơ thẩm, xét xử bị cáo mức án tù chung thân cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo - Luật sư Đỗ Hải B trình bày: Bị cáo bị bắt quả tang, tang vật đã có. Trong hồ sơ, bị cáo khai đã biết vận chuyển ma túy. Bị cáo không biết chữ, có phiên dịch nhưng phiên dịch không rõ ràng. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy bị cáo bị xét xử là đúng. Bị cáo khai X nhưng không rõ nhân thân, địa chỉ nên không bắt được. Bị cáo khai khi cơ quan chức năng bắt mới biết là ma túy. Mức án tử hình đối với bị cáo như vậy chưa phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị áo, sửa án sơ thẩm,

3

xét xử bị cáo mức án tù chung thân cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.

Bị cáo trình bày: Thống nhất ý kiến của các luật sư bảo vệ cho bị cáo trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia tranh luận: Bị cáo Hai D ở trên Campuchia là công dân Campuchia. Khi nhập cảnh vào Việt nam, bị cáo phải tuân theo qui định của pháp luật Việt Nam. Bị cáo không phải là nhân viên ngoại giao, thân nhân có quan hệ ngoại giao để hưởng các chính sách ưu đãi về ngoại giao. Luật sư H1 khi đặt câu hỏi bị cáo có mở va ly ra không thì bị cáo trả lời liền không nhưng câu hỏi này đã được hỏi tại phiên tòa sơ thẩm và bị cáo có nói có mở va ly để bỏ quần áo vào. Cách thay đổi lời khai của bị cáo nói lên sự ăn năn hối cải của bị cáo hạn chế, chưa thật sự ăn năn hối cải trong khi đó một thành viên của Hội đồng xét xử hỏi và bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo mang vào Việt Nam trên 4 kg ma túy. Ở Singapore, chỉ một số lượng ma túy nhỏ hơn cũng đã bị xét xử rất nghiêm. Để luật pháp được nghiêm minh, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình và các em.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hai D thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm:

Bị cáo Hai D là người quốc tịch Campuchia, vào ngày 27/10/2019 nhập cảnh vào Việt Nam tại Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài, qua kiểm tra thủ tục hành chính, Chi cục Hải quan và các lực lượng chức năng tiến hành soi chiếu và kiểm tra bên trong chiếc valy màu đen của bị cáo Hai D, có chứa 05 gói hình vuông quấn keo màu trắng, tiếp tục kiểm tra từng gói này được quấn lớp giấy màu xanh, kế tiếp là bọc nylon màu trắng bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng. Tại kết luận giám định số 1605/KL-KTHS ngày 30/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể bên trong 05 gói hình vuông quấn keo giấy màu trắng gửi giám định là chất ma túy, tên gọi Methamphetamine, khối lượng 4925,2077 gam. Bị cáo khai nhận đã vận chuyển thuê với giá là 150USD.

Lời khai nhận tội của bị cáo Hai D hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án.

4

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hai D và đề nghị của luật sư bào chữa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hai D về tội "Vận chuyển trái pháp chất ma túy” theo quy đinh tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội.

Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, mặt khác nó còn là nguyên nhân làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng, là nguồn gốc phát sinh ra các loại tội phạm khác.

Bị cáo Hai D thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy nhằm mục đích nhận tiền công. Khi thực hiện hành vi vận chuyển thì bị cáo biết rõ tài sản được thuê vận chuyển là chất ma túy, việc vận chuyển trái phép là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Bị cáo kháng cáo cho rằng không biết bên trong chiếc valy bị bắt có ma túy, bị cáo bị lừa vì nghĩ bên trong chỉ có quần áo. Lời khai nại này của bị cáo không có cơ sở. Nhiều lời khai của bị cáo vào ngày 21/12/2019 và ngày 21/01/2020 bị cáo biết vận chuyển ma túy.

Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng với các bị cáo là phù hợp. Bị cáo kháng cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới. Số lượng ma túy vận chuyển rất lớn. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh đề nghị.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Do không được chấp nhận kháng cáo, bị cáo Hai D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các nội dung khác trong quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hai D. Giữ nguyên án sơ thẩm.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật Hình sự.

5

Xử phạt bị cáo Hai D Tử hình về tội "Vận chuyển trái pháp chất ma túy”.

Tiếp tục tạm giam bị cáo theo quyết định của Hội đồng xét xử để đảm bảo việc thi hành án.

2. Các nội dung khác trong quyết định Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2020/HSST ngày 31/7/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bị cáo Hai D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, bị cáo được quyền làm đơn xin ân giảm án tử hình gửi Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ