- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Nguyễn Bích T xin ly hôn, tranh chấp con chung với Trần Thanh V"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Nguyễn Bích T đối với anh Trần Thanh V.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2021/HNGĐ-ST Ngày: 28/4/2021 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Mừng
2. Ông Trần Tấn Phát
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Ninh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Khổng Thị Thu – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 630/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2021/QĐXXST-HN ngày 08 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2021/QĐST-HNGĐ 16/4/2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Nguyễn Bích T, sinh năm: 1983; Địa chỉ: 171 đường N, khu phố Hiệp Nghĩa, phường H, thành phố TN, tỉnh TN. Có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn: Anh Trần Thanh V, sinh năm: 1982; Địa chỉ: 171 Đường N, khu phố H, phường N, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Nguyễn Bích T trình bày:
Chị và anh Trần Thanh V chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn số 169 quyển số 01 ngày 01/10/2007 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống được khoảng 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do sau khoảng thời gian chung sống với nhau hai bên không hiểu nhau, có nhiều khác biệt trong cách sống, quan điểm sống dẫn đến phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được. Vợ chồng thường xuyên cãi vã gây ra xào xáo trong gia đình. Chị T nhận thấy không thể có một cuộc hôn nhân hạnh phúc, không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa, tình trạng hôn nhân đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và cần phải ly hôn để tạo điều kiện cho cả hai có thể tạo dựng cuộc sống mới của mình. Chị và anh V đã ly thân khoảng 03 năm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V.
Về con chung: Chị và anh V có 01 con chung là cháu Trần Minh Q, sinh ngày 25/6/2008. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nợ chung.
Bị đơn anh Trần Thanh V không đến Tòa án làm việc, không gửi bản tự khai nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh trình bày:
+ Về thủ tục tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án:
- Quan hệ hôn nhân: Chị T và anh V chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn số169 quyền số 01 ngày 01/10/2007 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, anh V không hợp tác, không đến Tòa án làm việc thể hiện anh V không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T, qua đó cho thấy, anh V và chị T đã có mâu thuẫn trầm trọng trong mối quan hệ hôn nhân. Tình cảm vợ chồng giữa anh chị không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, không có khả năng đoàn tụ nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51,56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh V.
- Con chung: Chị T và anh V có 01 con chung là cháu Trần Minh Q, sinh ngày 25/6/2008. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy do anh V không có ý kiến, cháu Q có nguyện vọng được sống cùng chị T nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu Q cho T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Ghi nhận việc chị Trâm không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
- Án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp, qua kết quả thẩm tra các tài liệu chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Phạm Nguyễn Bích T có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
Bị đơn anh Trần Thanh V được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh V.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị T và anh V chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn số 169 quyển số 01 ngày 01/10/2007 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh nên quan hệ hôn nhân của chị T với anh V là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị T được ly hôn với anh V: Anh chị chung sống vợ chồng từ năm 2007, bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2008 sau khi chị T sinh con, nguyên nhân là do vợ chồng khó khăn về kinh tế. Sau này vợ chồng kinh tế đã ổn định hơn nhưng vẫn không cải thiện được. Hai vợ chồng đã nhiều lần bàn bạc giải quyết mâu thuẫn nhưng tình cảm vẫn không hàn gắn được. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh V không hợp tác, không đến Tòa án làm việc, thể hiện anh V không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T nữa, cũng không mong muốn tiếp tục xây dựng lại gia đình với chị T để cùng nhau tạo dựng kinh tế, cùng nhau nuôi dưỡng, chăm sóc con cái. Qua đó cho thấy, anh V và chị T đã có mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng giữa họ không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, không có khả năng đoàn tụ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51,56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, cho chị T được ly hôn với anhV.
Về con chung: Chị T và anh V có 01 con chung là cháu Trần Minh Q, sinh ngày 25/6/2008. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy do anh V không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị T, cháu Q có nguyện vọng được sống cùng mẹ nên Hội đồng xét thấy giao cháu Qcho chị T tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp. Chấp nhận yêu cầu của chị T và lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, giao cháu Quân cho chị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự và nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82,110 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Nguyễn Bích T đối với anh Trần Thanh V.
Cho chị Phạm Nguyễn Bích T được ly hôn với anh Trần Thanh V. Chị T và anh V chấm dứt quan hệ vợ chồng.
2. Về con chung:
Giao cháu Trần Trầm Minh Q, sinh ngày 25/6/2008 cho chị Phạm Nguyễn Bích T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Ghi nhận chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi cháu Q.
Sau khi ly hôn, anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Nguyễn Bích T phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0000966 ngày 08/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Chị Trâm đã nộp đủ án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ đối với đương sự vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thành phố Tây Ninh; - THADS thành phố Tây Ninh; - Đương sự; - UBND P. H, thành phố Tây Ninh; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thầm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Thanh Hoa |