vanban.org

Bản án 22/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ

luật Tố tụng dân sự; về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ
  • Căn cứ chính? Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ H PHÒNG
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2021/HNGĐ-ST
Ngày 02-7-2021
V/v tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ H PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Thiên Nga

Bà Phạm Thị Bấm

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Thủy - Thư ký Toà án nhân dân

quận Ngô Quyền, thành phố H Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô quyền, thành phố H

Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Quảng Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền,

thành phố H Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 101/2021/TLST-

HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2021 về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi

con sau khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2021/QĐXXST-

HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thanh B; nơi cư trú: phố H, phường Ô,

quận Đ, thành phố H; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T; nơi ĐKHKTT: đường Ng, phường Đ,

quận N, thành phố H. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Yên Định,

thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt (có đơn giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ dân sự xin thay đổi

người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Phạm Thị

Thanh B trình bày:

Chị Phạm Thị Thanh B và anh Nguyễn Đình T có 01 con chung là

Nguyễn Đình H, sinh ngày 28/8/2010. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố H Phòng đã công nhận sự thỏa thuận về việc nuôi con của chị Phạm Thị Thanh B và anh Nguyễn Đình T là: Giao con Nguyễn Đình H cho anh Nguyễn Đình T trực tiếp nuôi. Tuy nhiên vì lý do hiện nay anh Nguyễn Đình T bị vi phạm pháp luật và đang chấp hành án cải tạo tại Trại giam Yên Định, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nay chị Phạm Thị Thanh B đề nghị Tòa án giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; cụ thể chị Phạm Thị Thanh B sẽ trực tiếp nuôi con Nguyễn Đình H, sinh ngày 28/8/2010 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T trình bày trong bản tự khai ngày

28/5/2021.

Anh Nguyễn Đình T và chị Phạm Thị Thanh B xây dựng hạnh phúc với

nhau năm 2010 anh, chị có một con chung là Nguyễn Đình H, sinh ngày 28/8/2010. Đến năm 2013 anh chị đã thuận tình ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 79/2013/QĐST-HNGĐ ngày 10/5/2013 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố H Phòng, theo đó anh chị thỏa thuận về con chung anh Nguyễn Đình T trực tiếp nuôi con Nguyễn Đình H, sinh ngày 28/8/2010. Nhưng hiện nay anh Nguyễn Đình T bị vi phạm pháp luật và đang chấp hành án cải tạo tại Đội 17 Trại giam Yên Định, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nay chị Phạm Thị Thanh B đề nghị Tòa án giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; cụ thể chị Phạm Thị Thanh B sẽ trực tiếp nuôi con Nguyễn Đình H, sinh ngày 28/8/2010 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật anh Nguyễn Đình T đồng ý. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh T và chị B tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ngày 08/6/2021 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố H Phòng đã

thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 15/6/2021, tuy nhiên tại bản tự khai ngày 28/5/2021 anh Nguyễn Đình T đồng ý về yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo đơn của chị Phạm Thị Thanh B và anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh, như vậy đề nghị của anh thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Đình T. Chủ toạ phiên toà đã công bố tài liệu liên quan có trong hồ sơ thể hiện nội dung như nêu trên.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh B vẫn giữ nguyên

yêu cầu khởi kiện và nội dung bản tự khai về thay đổi người trực tiếp nuôi con

sau khi ly hôn; cháu Nguyễn Đình H có ý kiến và nguyện vọng là mong muốn

được về ở với mẹ là chị Phạm Thị Thanh B.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố H Phòng

tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước thời

điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp

hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện

đúng quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật; bị đơn

thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều

35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều

228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các điều 81; 82; 83; 84 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và

sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc

hội khóa 14; đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về thay đổi

người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị Phạm Thị Thanh B, xử: Về việc

nuôi con: Giao con chung là Nguyễn Đình H, sinh ngày 28/8/2010 cho chị Phạm

Thị Thanh B trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác

theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Phạm Thị

Thanh B và anh Nguyễn Đình T tự thỏa thuận, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí; anh Nguyễn Đình T pH chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của

pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Đây là vụ án tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly

hôn được quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh

Nguyễn Đình T; nơi ĐKHKTT: Số 5/24/109 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm,

phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố H Phòng. Hiện đang chấp

hành án phạt tù tại Đội 17 Trại giam Yên Định, thành phố Thanh Hóa, tỉnh

Thanh Hóa, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố H Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về thời hạn giải quyết vụ án:

Ngày 17 tháng 5 năm 2021, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền thụ lý

vụ án; đến ngày 15 tháng 6 năm 2021, Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Như vậy, Tòa án đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về sự vắng mặt của bị đơn:

Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Đình T vắng mặt (có đơn xin xét xử

vắng mặt). Như vậy đơn đề nghị của anh Nguyễn Đình T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Nội dung vụ án:

+ Về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

Anh Nguyễn Đình T và chị Phạm Thị Thanh B xây dựng hạnh phúc

với nhau vào năm 2010 anh, chị có một con chung là cháu Nguyễn Đình H, sinh ngày 28/8/2010. Đến năm 2013 anh chị đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 79/2013/QĐST-HNGĐ ngày 10/5/2013 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố H Phòng, theo đó anh chị thỏa thuận, về con chung anh Nguyễn Đình T trực tiếp nuôi con Nguyễn Đình H. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Nhưng hiện anh do Nguyễn Đình T bị vi phạm pháp luật và đang chấp hành án cải tạo tại Đội 17 Trại giam Yên Định, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nay chị Phạm Thị Thanh B đề nghị Tòa án giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; cụ thể chị Phạm Thị Thanh B sẽ trực tiếp nuôi con Nguyễn Đình H, sinh ngày 28/8/2010 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, anh Nguyễn Đình T đồng ý.

Sau khi chị Phạm Thị Thanh B có đơn đề nghị về thay đổi người trực

tiếp nuôi con sau khi ly hôn, ngày 14/4/2021 cháu Nguyễn Đình H cũng có đơn đề nghị gửi Tòa án, trong đơn cháu đề nghị được về ở với mẹ, đề nghị của cháu cũng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thể hiện rõ nguyên vọng của cháu. Tại bản tự khai ngày 28/5/2021 anh Nguyễn Đình T đã thể hiện quan điểm là đồng ý với đơn đề nghị của chị Phạm Thị Thanh B là phù hợp với quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Như vậy việc chị Phạm Thị Thanh B có đơn về thay đổi người trực tiếp

nuôi con sau khi ly hôn đối với anh Nguyễn Đình T suất phát từ lợi ích của con.

Để ổn định cho cháu Nguyễn Đình H được thoải mái về tinh thần trong khi cháu

đang ở độ tuổi là học sinh Tiểu học; mặt khác theo nguyện vọng của cháu mong

muốn về ở với mẹ cũng là phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, cần áp

dụng khoản 1 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Chấp nhận đơn

khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh B về thay đổi người trực tiếp

nuôi con sau khi ly hôn: Giao con chung Nguyễn Đình H, sinh ngày 28/8/2010

cho chị Phạm Thị Thanh B trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự

thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị

Phạm Thị Thanh B và anh Nguyễn Đình T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử

không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

án ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc hội khóa 14; bị đơn anh

Nguyễn Đình T pH chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Tuy nhiên anh

T hiện đang chấp hành án cải tạo tại Đội 17 Trại giam Yên Định, thành phố

Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; tại phiên tòa sau khi được hỏi chị Phạm Thị Thanh

B tự nguyên nộp thay cho anh T số tiền án phí này, đây là sự tự nguyện của chị

B nên Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc chị Phạm Thị Thanh B pH nộp

300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi

ly hôn.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Chị Phạm Thị Thanh B và anh Nguyễn Đình T được quyền kháng cáo

bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều

39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ

luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc hội khóa 14;

Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh B về thay

đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

Xử: Giao con chung Nguyễn Đình H, sinh ngày 28/8/2010 cho chị Phạm

Thị Thanh B trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Phạm Thị Thanh B và anh Nguyễn Đình T tạm thời không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà

không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Phạm Thị Thanh B pH nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ

thẩm; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Phạm Thị Thanh B đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006989 ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố H Phòng. Chị Phạm Thị Thanh B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Chị Phạm Thị Thanh B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Anh Nguyễn Đình T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày

kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND quận Ngô Quyền;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;

- Đương sự;

- Lưu hồ sơ.

Lê Văn Mười

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Mười

Cỡ chữ