vanban.org

Bản án 22/2021/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Phạm Bảo X được ly hôn với chị Nguyễn Thị Th.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm (hôn nhân): Anh Phạm Bảo X chịu số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu 0007838 ngày 18/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Anh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Phạm Bảo X, bị đơn Nguyễn Thị Th"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Phạm Bảo X được ly hôn với chị Nguyễn Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 08/3/2021
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Cẩm Lình.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tiến Nhanh.

2. Ông Lưu Văn Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Ý, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 3 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện An Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2020/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14A/2021/QĐXXST-HN ngày 18/01/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2021/QĐST – HN ngày 08/02/2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Phạm Bảo X, sinh năm: 1979. Cư trú: Ấp R G, xã Đ H A, huyện An Minh, Kiên Giang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm: 1977. Cư trú: Ấp R G, xã Đ H A, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.(Vắng mặt lần 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 07/5/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phạm Bảo X trình bày và yêu cầu như sau: Anh và chị Nguyễn Thị Th chung sống với nhau từ năm 2013. Vợ chồng anh có đăng ký kết hôn theo quy định và được UBND xã Đ H A cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 28/6/2013. Sau khi cưới thì vợ chồng về sinh sống tại ấp R G cho đến khi vợ chồng ly thân.

Trong quá trình vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp nhau về tính cách, luôn bất đồng quan điểm, không cùng chí hướng nên anh chị đã ly thân và không liên lạc với nhau từ năm 2015 cho đến nay.

- Về con chung: Anh X xác nhận, anh và chị Th không có con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có phát sinh.

Do xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Th; về con chung, tài sản chung và nợ chung không có tranh chấp nên anh X không yêu cầu giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị Th không có ý kiến.

* Tại phiên tòa:

- Anh X và chị Th: Vắng mặt

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với các đương sự thì từ khi thụ lý vụ án đến nay phía nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Phía bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ là chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn với bị đơn.

.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (gọi tắt là HĐXX) nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Phạm Bảo X khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Th là tranh chấp dân sự về hôn nhân và gia đình. Khi anh X khởi kiện được Tòa án thụ lý vụ án để giải quyết thì chị Th đang có nơi cư trú tại ấp R G, xã Đ H A, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Qua yêu cầu của đương sự trong vụ án được xác định mối quan hệ pháp luật là “Ly hôn”.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với chị Th nhưng chị Th đều vắng mặt không có lý do. Xét thấy, trường hợp vắng mặt của chị Th không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và anh X có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh X và chị Th.

Về quan hệ hôn nhân: Anh X và chị Th chung sống với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ H A và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 28/6/2013 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của anh X về việc ly hôn với chị Th, HĐXX xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án thì anh X cho rằng sau khi kết hôn và qua thời gian chung sống thì anh chị luôn bất đồng quan điểm, không cùng chí hướng nên anh chị đã ly thân và không còn liên lạc với nhau từ năm 2015 đến nay.

Qua xác minh tại nơi cư trú (ấp R G), cho thấy trong quá trình chung sống giữa anh X và chị Th không hòa hợp nhau về cách, luôn bất đồng quan điểm, cuộc sống không hạnh phúc là đúng.

Đồng thời, sau khi Tòa án thụ lý và Tòa án đã tiến hành thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng cho chị Th được biết và triệu tập chị Th nhiều lần để hòa giải nhằm động viên anh chị trở về chung sống, tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng chị Th luôn vắng mặt, không có ý kiến gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến của anh đối với yêu cầu của anh X.

Mặc khác, anh X và chị Th đã ly thân từ năm 2015 đến nay nhưng anh chị không có liên lạc với nhau nên tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được, không tới lui để quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau là anh chị đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 chấp nhận yêu cầu của anh X và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cho anh X được ly hôn với chị Th.

Về quan hệ con chung: Anh X xác nhận, anh và chị Th không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh X xác nhận, trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung và không có phát sinh nợ chung nên anh không yêu cầu giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.

Nhưng sau khi ly hôn, trường hợp có phát sinh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của anh X và chị Th thì anh chị vẫn có nghĩa vụ liên đới.

Về án phí dân sự sơ thẩm (hôn nhân): Anh X phải chịu số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Phạm Bảo X được ly hôn với chị Nguyễn Thị Th.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm (hôn nhân): Anh Phạm Bảo X chịu số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu 0007838 ngày 18/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Anh X đã nộp án phí xong.

3/ Quyền kháng cáo: Anh X và chị Th vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ