- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "DSPT Dương Thị K - Dương Văn Đ, Nguyễn Thu T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị K đối với chị Nguyễn Thu T về việc yêu cầu bồi thường về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2021/DS - PT Ngày: 25/3/2021 V/v Bồi thường thiệt hại về sức khỏe. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Liên
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế và ông Bằng Công Hiệp.
- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thúy Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 95/2020/TLPT-DS ngày 12 tháng 11 năm 2020 về việc bồi thường thiệt hại về sức khỏe.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 22/2020/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 124/2020/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị K, sinh năm 1966.
2. Bị đơn: 2.1 Anh Dương Văn Đ, sinh năm 1989.
2.2 Chị Nguyễn Thu T, sinh năm 1996.
(Bà K, chị T, anh Đ đều có mặt)
3. Người làm chứng:
3.1 Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952 (Có mặt)
3.2 Bà Dương Thị P, sinh năm 1932 (Vắng mặt)
Các đương sự đều cùng địa chỉ: Xóm NG 1, xã UK, huyệ n PB, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm nguyên đơn bà Dương Thị K trình bày: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 05/7/2019 bà đi là m về thì thấ y cửa nhà đầ y phân trâu, phân bò hấ t và o nhà , khi bà hấ t phân trâu bò thì chị T có chạy ra dùng tay túm tóc tát bà, anh Đ có dùng chân đ ạp vào mặt, cổ bà. Bà bị thương tí ch ở má và đầ u ph ải đi bệ nh việ n A và bệ nh việ n T âm Thầ n điều trị nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Đ, chị T phải bồi thường cho bà với tổng số tiền 57.663.085 đồ ng cụ thể gồm các khoản:
- Tiề n thuố c tạ i bệ nh việ n A và bệ nh việ n Tâm Thầ n là : 10.363.085 đồ ng (Có hóa đơn)
- Tiề n thuê xe 02 lầ n: 600.000 đồ ng
- Tiề n ăn tro ng nhữ ng ngà y nằ m việ n : 20 ngày x 2 ngườ i x 80.000 đ = 3.200.000 đồ ng.
- Thu nhậ p bị mấ t khi điề u trị tạ i nhà 20 ngày và tại viện 20 ngày: (20 ngày + 20 ngày) x 150.000 đ/ngày = 6.000.000 đồ ng.
- Thu nhậ p củ a ngườ i chăm só c: 20 ngày x 250.000 đ = 5.000.000 đồ ng
- Tổ n thấ t về tinh thầ n
: 10 tháng x 3.250.000 đồ ng (vùng III ) = 32.500.000 đồ ng.
Anh Dương Văn Đ trình bày: Buổ i chiề u 17h ngà y 05/7/2020 anh đi là m về thấ y cổ ng nhà bị dả i nhiề u phân hôi nên đã dùng xẻng để hất ra ngoài đường cái, sau đó anh đi chăn gà ở nhà ngoà i (Việc đổ phân của nhà ông, bà K Thạch xảy ra từ năm 2017, thậm chí khi bố anh bị bệnh hiểm nghèo đưa từ viện về ông Thạch còn đổ nước phân ra đường). Mộ t lú c sau anh th ấy vợ anh kêu , anh chạ y ra thì thấ y chị T cùng bà K xô xát, ông T1 dọa chém. Anh không đá nh bà K. Nguyên nhân mâu thuẫ n giữ a hai nhà là tranh chấ p đấ t đai từ trướ c
, phầ n đấ t tranh chấ p là đườ ng đi chung củ a 2 nhà, ông T1 đổ phân ra đườ ng đi. Nay bà K yêu cầ u bồ i thườ ng anh không nhấ t trí vì không gây thương tí ch cho bà K.
Chị T trình bày: Chiề u 05/7/2020 chị đi là m về thấ y phân bò đổ ra đườ ng, chị có gọi điện cho ông Trưở ng xóm là ông Dương Văn M nhưng ông M không giả i quyế t, chị lại gọi ông Dương Văn G nhưng không ai có mặ t nên chị tự ra dọ n và có hấ t qua hấ t lạ i, có lời qua tiếng lại, bà K kéo tóc chị, chị bị đau nên kêu lên gọi chồ ng. Bà K cũng gọi chồng ra, ông T1 có mang dao ra đe dọa vợ ch ồng chị. Sự việ c xả y ra có nhữ ng ngườ i đi là m qua lạ i đứ ng xem. Chị xác định không đấm đá bà K, chị và bà K kéo tóc nhau, chị không gây thương tí ch cho b à K để phải đi việ n. Chị bị giật tóc cũng bị đau nhưng không phải đi viện. Hai bên chỉ dù ng tay chân ké o, túm tóc nhau . Nay bà K yêu cầ u vợ chồ ng ch ị bồ i thườ ng số tiề n 57.663.085 đồ ng, chị không nhấ t tri.́
Với nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 22/2020/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:
Căn cứ vào Điều 26, 35, 146, 147 BLTTDS; Điều 32; 357, 468, 584; 585; 590; 592 của Bộ Luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị K đối với chị Nguyễn Thu T về việc yêu cầu bồi thường về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Buộc chị T phải bồi thường cho bà K một khoản tiền là: 10.071.542 (Mười triệu, không trăm bẩy mươi mốt nghìn, năm trăm bốn mươi hai đồng)
- Bác yêu cầu bồi thường của bà Dương Thị K đối với anh Dương Văn Đoàn.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị T phải nộp 503.000đ (Năm trăm linh ba nghìn đồng) án phí DSST vào ngân sách nhà nước.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/10/2020 chị T kháng cáo không nhất trí với bản án với các lý do: Nguyên nhân dẫn đến xô xát là do bà K có lỗi, hai bên rằng co túm tóc nhau cả hai bên đều bị đau nên chị không nhất trí bồi thường đề nghị xem xét việc bà K ông Thạch vu khống cho chị và anh Đoàn trên mạng xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa phúc thẩm chị T vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:
. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của chị T làm trong hạn luật định đã nộp tiền tạm ứng án phí kháng cáo được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Về nội dung: Khoảng 17 giờ ngày 05/7/2020, tại xóm Xóm NG 1, xã UK, huyệ n PB, tỉnh Thái Nguyên giữa chị Nguyễn Thu T và bà Dương Thị K có xẩy ra xô xát, cãi nhau. Chị T đã túm tóc bà K và hai bên xô đẩy nhau dẫn đến việc bà Dương Thị K phải vào viện A Thái Nguyên điều trị từ ngày 5/7/2020 đến ngày 15/7/2020 ra viện và điều trị tại bệnh viện Tâm Thần Thái Nguyên từ ngày 15/7/2020 đến ngày 25/7/2020 ra viện. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình đã ra quyết định trưng cầu giám định kết luật tỷ lệ thương tích của bà K là 0% và ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Nguyễn Thu T thừa nhận khi xảy ra xô xát hai bên dùng tay túm tóc nhau, chị T dùng tay kéo tóc bà K và bà K cũng túm tóc chị T, tuy nhiên chị T không đi khám và điều trị còn bà K phải đi viện điều trị, ngoài chị T và bà K xô xát không có ai khác.
Xét kháng cáo của chị T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguyên nhân dẫn đến xô xát là do gia đình bà K đổ phân ra phía đường đi, hai bên đã có lời qua tiếng lại. Chị T thừa nhận có dùng tay túm tóc bà K dẫn đến bà K phải đi viện điều trị nên phải chịu một phần trách nhiệm bồi thường cho bà K. Còn đối với bà Dương Thị K đổ phân gia súc chưa qua xử lý của gia đình bà đã gây ô nhiễm môi trường, mặc dù bà K khai đổ trong phía giáp đất nhà bà nhưng vẫn tạo ra mùi hôi thối, ảnh hưởng đến cuộc sống của những người xung quanh, trong đó có gia đình chị T. Việc làm của bà Dương Thị K và gia đình không phù hợp với nếp sống văn minh, gây mất đoàn kết trong nội bộ khu dân cư, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà K phải chịu ½ lỗi và buộc chị T phải bồi thường cho bà K ½ thiệt hại là có căn cứ, tuy nhiên cấp sơ thẩm lại buộc chị T bồi thường cả tiền ăn cho bà K và người chăm sóc là không đúng nên cấp phúc thẩm sửa lại cho đúng, cụ thể các khoản được tính như sau:
- 18 ngày nằm viện x 150.000đ/ ngày = 2.700.000đ
- 18 công phục vụ x 200.000đ/công = 3.600.000đ
- Tiề n thuố c theo hóa đơn: 10.363.085 đồ ng
- Tiề n thuê xe 02 lầ n: 600.000 đồ ng
Tổng cộng: 17.263.085đ
Buộc chị T phải bồi thường cho bà K 1/2 thiệt hại với số tiền là 8.631.542đ là phù hợp với pháp luật, chấp nhận 1 phần kháng cáo của chị T sửa bản án sơ thẩm.
Đối với kháng cáo của chị T về nội dung ông T1 và bà K vu khống cho chị và anh Đ trên mạng xã hội, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết, nếu chị T khởi kiện thì được giải quyết bằng vụ kiện khác.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Quan điểm giải quyết của đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 22/2020/DS-ST ngày 29/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Phú Bình.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, 468, 584; 585; 590; 592 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận 1 phần đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thu T, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 22/2020/DS-ST ngày 29/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Phú Bình.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị K đối với chị Nguyễn Thu T về việc yêu cầu bồi thường về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Buộc chị T phải bồi thường cho bà K số tiền là: 8.631.542đ (Tám triệu, sáu trăm ba mươi mốt nghìn, năm trăm bốn mươi hai đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà K có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị T chậm thi hành số tiền trên thì phải chịu khoản tiền lãi chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Bác yêu cầu đòi bồi thường của bà Dương Thị K đối với anh Dương Văn Đ.
3. Về án phí:
3.1 Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị T phải nộp 431.577đ (Bốn trăm ba mươi mốt nghìn, năm trăm bảy mươi bảy đồng) án phí DSST vào ngân sách nhà nước.
3.2 Án phí dân sự phúc thẩm: Chị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được trả lại 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000024 ngày 14/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - TAND huyện Phú Bình; - THADS huyện Phú Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Thị Liên |