vanban.org

Bản án 22/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Tuyên án 10/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Về trách nhiệm dân sự: không Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐẶNG VĂN D - phạm tội vô ý làm chết người (điều 128 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH H
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22 /2020/HS-ST
Ngày 10-6-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Anh Luyện.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vương Thị Liên.

2. Ông Phùng Ngọc Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa: Bà Lý Hồng Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2020 đối với:

Bị cáo: ĐẶNG VĂN D(Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 27 tháng 8 năm 1996 tại huyện V, tỉnh H.

Nơi cư trú: Thôn Lùng Chang, xã Linh H, huyện V, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Văn T (đã chết); Con bà: Triệu Thị X - Sinh năm: 1972; Vợ: Lý Thị D - Sinh năm 1997; Có 02 con: Con nhỏ nhất sinh năm 2016, con lớn nhất sinh năm 2014;

Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:..

Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú số 29/2020/HSST - QĐ, ngày 25-5-2020 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H; Hôm nay có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn D: Bà Bùi Thị H, sinh năm 1987; Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Hôm nay có mặt

Bị hại: Anh Nông Thanh H, sinh năm 2000 (đã chết ngày26-12-2019);

Người đại diện theo pháp luật của bị hại Nông Thanh H: Anh Nông Văn Ch, sinh năm 1974 (là bố đẻ); Địa chỉ: Thôn Lùng Chang, xã Linh H, huyện V, tỉnh H. Hôm nay có mặt

Người làm chứng:

1

1. Anh Lý Văn T, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn Tiến Thành, xã Ngọc Minh, huyện V, tỉnh H. Hôm nay vắng mặt

2. Cháu Triệu Văn Đ, sinh năm 2003; Địa chỉ: Thôn Lùng Chang, xã Linh H, huyện V, tỉnh H. Hôm nay có mặt

Người đại diện theo pháp luật của người làm chứng Triệu Văn Đ: Anh Triệu Văn N, sinh năm 1976 (là bố đẻ); Địa chỉ: Thôn Lùng Chang, xã Linh H, huyện V, tỉnh H. Hôm nay có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 21-10-2019 Đặng Văn D đang ở nhà thì Nông Thanh H, sinh năm 2000 gọi điện thoại rủ D, Triệu Văn Đ và Lý Văn T đi vào rừng săn bắn tại khu vực núi thuộc thôn Xuân Phong, xã Linh H, huyện V được mọi người đồng ý. Sau đó D, Đ, T tập chung tại nhà H để chuẩn bị thực phẩm và các đồ dùng cho việc săn bắn thú rừng. Khoảng 14 giờ 30 phút tất cả cùng nhau đi, khi đi T điều khiển xe mô tô BKS 23H9 - 9593 chở D ngồi sau, D cầm theo 01 khẩu súng hơi (súng tự chế), một số viên đạn bằng kim loại và 01 đèn pin (loại treo đầu) còn Hđiều khiển xe mô tô BKS 23B1 - 003.61 chở Đ ngồi sau (H mang theo 01 khẩu súng kíp Đ ngồi sau cầm hộ), H, T, Đ mang theo mỗi người 01 đèn pin (loại treo đầu). Khoảng 16 giờ cùng ngày mọi người đến khu vực chân núi thôn Xuân Phong và để xe mô tô ở đằng sau nhà Triệu Văn C trú tại Thôn Lùng Chang, xã Linh H, huyện V rồi cùng nhau đi bộ lên núi thôn Xuân Phong, xã Linh H. Khi đến nơi H, D, T, Đ tìm được 01 hang đá để ngủ và để thực phẩm phục vụ cho việc săn bắn. Lúc này trời đã tối nên mọi người cùng nhau đi săn luôn, mỗi người sử dụng 01 đèn pin để soi, tìm săn bắt thú rừng, 04 người đi săn đến sáng thì về hang ngủ nghỉ. Khoảng 19 giờ ngày 22-10-2019 H, D, T, Đ sau khi đi săn quay về hang đá nghỉ, H đi trước sau đó đến D, rồi đến T và Đ, D đi sau cách H khoảng 2m, tay phải H, D cầm vào phần thân súng, ép sát vào mạng sườn, nòng súng hướng về phía trước (súng đã nạp đạn và kéo chốt lên đạn) trong tư thế nếu phát hiện con vật thì dơ súng lên bắn luôn (không mất thời gian dừng lại để nạp và lên đạn). Do đường đất đá trơn trượt, dốc cao khoảng 40 độ, có nhiều cành cây D bị trượt chân vấp ngã sấp người về phía trước, tay phải H, D đang cầm súng bị đập xuống đất làm súng bị cướp cò phát nổ đạn đã bắn trúng vào phía sau đầu của H làm H bị thương. Sau đó được mọi người đưa H đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H. Do vết thương quá nặng nên H đã tử vong ngày 26-12-2019.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 08/KLPY-PC09, ngày 08-01-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận: Nguyên nhân chết của Nông Thanh H là tổn thương xuyên thấu tổ chức não, do dị vật kim loại (BL số 55 đên 56).

2

Về phần dân sự: Ngày 28-12-2019 đại diện gia đình Đặng Văn D, cùng gia đình Lý Văn T và Triệu Văn Đ đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại về chi phí tiền điều trị, mai táng, tính mạng, tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại Nông Thanh H (Đại diện là ông Nông Văn Ch – bố đẻ của bị hại H) với tổng số tiền là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng). Sau khi nhận đủ tiền đại diện cho bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đặng Văn D (BL số 144).

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 khẩu súng màu đen, tổng chiều dài là 1,4m bằng kim loại, nòng súng bằng kim loại dài 73cm, đường kính nòng 1,1cm, báng súng và tay cầm làm bằng kim loại. Trên súng có gắn một ống bằng kim loại màu đen (được bịt kín hai đầu bằng nắp nhựa màu đen) dài 33cm, đường kính 5,1cm;

- 01 khẩu súng (loại súng kíp) màu đen, phần báng súng bằng gỗ dài 1,3m, nòng súng bằng kim loại hình tròn dài 1,33m, rộng 1,5cm. Cò, búa đập bằng kim loại;

- 11 viên kim loại hình trụ, màu xám kích thước 06 x 05mm;

- 02 mảnh kim loại, màu đen (sẫm màu) kích thước 0,5 x 0,3 x 0,3cm và kích thước 0,1 x 0,6 x 0,5cm;

(Vật chứng này giao cho Công an huyện V quản lý theo quy định của pháp luật).

- 01 Chiếc bơm bằng kim loại dài 81cm, tay cầm bằng cao su màu đen, dài 26cm, chân bơm gắn một ống dài 59cm, đã qua sử dụng;

- 03 Chiếc đèn chiếu sáng màu đen (loại đèn pin treo đầu), trên đèn có gắn một thanh gỗ dài 15cm, 01 dây cao su màu đen gắn 02 đầu thanh gỗ, đều đã qua sử dụng;

- 01 Chiếc đén chiếu sáng màu đen (loại đèn pin treo đầu có 03 dây), đã qua sử dụng.

(Vật chứng này đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện V để quản lý).

Ngày 17-01-2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 08/TCGĐ trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ công an giám định: 01 khẩu súng ký hiệu A1; 01 phong bì giấy bên trong đựng các hạt kim loại hình trụ, màu xám ký hiệu A2; 01 hộp nhựa bên trong đựng 02 mảnh kim loại ký hiệu A3. Khẩu súng gửi giám định là loại súng gì, có pHvũ khí quân dụng, tính năng, tác dụng, khả năng gây sát thương. Các viên kim loại trong mẫu A2 thu giữ cùng với súng có phù hợp là đạn sử dụng để bắn súng không. 02 mảnh kim loại thu giữ trong đầu nạn nhân Hcó phù hợp với các viên kim loại thu giữ với khẩu súng không. Với khoảng cách là 2,1m từ phía sau khẩu súng có thể gây sát thương phù hợp với kết quả khám nghiệm tử thi không (BL số 59).

Tại Bản kết luận giám định số 431/C09-P3, ngày 14-02-2020 của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận: Khẩu súng gửi giám định là súng hơi tự chế có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, không H vũ khí quân dụng. Sử dụng khẩu súng này bắn đạn vào người sẽ gây chết hoặc bị thương. Các viên

3

kim loại trong mẫu A2 gửi giám định nhồi (đóng) được làm đạn, sử dụng bắn được cho vào khẩu súng trên. 02 mẫu kim loại ký hiệu A3 gửi giám định có đặc điểm hình dạng tương tự các viên kim loại thu giữ trong mẫu A2. Với khoảng cách 2,1 mét, sử dụng khẩu súng ký hiệu A1 bắn từ phía sau vào cơ thể người có thể tạo ra lỗ đạn tương tự lỗ thủng xương trong Biên bản khám nghiệm tử thi hoặc một phần tử thi do Công an huyện V lập ngày 26-12-2019 (BL số 60).

Tại cáo trạng số: 22/CT-VKS ngày 29 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H. Quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Văn D về tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Đặng Văn D khai: Khoảng 19 giờ 0 phút, ngày 22-10-2019 tại khu rừng thuộc thôn Xuân Phong, xã Linh H, huyện V, tỉnh H. Đặng Văn D, sử dụng súng hơi tự chế đi săn bắn. Khi đang đi săn D bị trượt chân vấp ngã súng bị cướp cò gây nổ nên đã bắn trúng vào phía sau đầu của Nông Thanh H, làm H bị thương tích, dẫn đến tử vong. Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại. Bị cáo D nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để sớm quay về với gia đình và xã hội.

Tại phiên tòa ngày hôm nay người đại diện cho bị hại đã thừa nhận gia đình bị cáo D, cùng gia đình Lý Văn T và Triệu Văn Đ đã bồi thường trách nhiệm dân sự, về trách nhiệm hình sự đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D và không yêu cầu bị cáo H bồi thường thêm bất cứ khoản gì về phần trách nhiệm dân sự, cam kết sẽ không có khiếu kiện gì về sau.

Người làm chứng đã khai tại hồ sơ, tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, người đại diện của bị hại, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V thực hành quyền công tố tại phiên tòa ngày hôm nay, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Văn D. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của bị cáo; lời khai của người đại diện bị hại; lời khai người làm chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vđề nghị với HĐXX:

Về tội danh: Tuyên bị cáo Đặng Văn D phạm tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 128; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Văn D từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện cho bị hại thừa nhận bị cáo D đã bồi thường xong phần trách nhiệm dân sự, về trách nhiệm hình sự đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D và không yêu cầu bị cáo D không phải bồi thường thêm về phần trách nhiệm dân sự, cam kết sẽ không có khiếu kiện gì về sau. Do vậy HĐXX không đề cập giải quyết.

4

Về vật chứng:

Áp dụng: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 63; Điều 70; Điều 71 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017; Nghị định số 79/2018/ NĐ/CP ngày 16- 5 -2018 của Chính phủ “ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành quản lý, sử dụng vũ khí vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ”

* Tịch thu tiêu hủy:

Giao cho Công an huyện V, tỉnh H tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm:

- 01 khẩu súng màu đen, tổng chiều dài là 1,4m bằng kim loại, nòng súng bằng kim loại dài 73cm, đường kính nòng 1,1cm, báng súng và tay cầm làm bằng kim loại. Trên súng có gắn một ống bằng kim loại màu đen (được bịt kín hai đầu bằng nắp nhựa màu đen) dài 33cm, đường kính 5,1cm;

- 01 khẩu súng (loại súng kíp) màu đen, phần báng súng bằng gỗ dài 1,3m, nòng súng bằng kim loại hình tròn dài 1,33m, rộng 1,5cm. Cò, búa đập bằng kim loại;

- 11 viên kim loại hình trụ, màu xám kích thước 06 x 05mm;

- 02 mảnh kim loại, màu đen (sẫm màu) kích thước 0,5 x 0,3 x 0,3cm và kích thước 0,1 x 0,6 x 0,5cm;

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số: 19/PNK ngyà 19-03-2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V).

Giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện V tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng, chủ sở hữu từ trối nhận lại tài sản gồm.

- 01 Chiếc bơm bằng kim loại dài 81cm, tay cầm bằng cao su màu đen, dài 26cm, chân bơm gắn một ống dài 59cm, đã qua sử dụng;

- 03 Chiếc đèn chiếu sáng màu đen (loại đèn pin treo đầu), trên đèn có gắn một thanh gỗ dài 15cm, 01 dây cao su màu đen gắn 02 đầu thanh gỗ, đều đã qua sử dụng;

- 01 Chiếc đèn chiếu sáng màu đen (loại đèn pin treo đầu có 03 dây), đã qua sử dụng.

(Theo như biên bản bàn giao ngày 22-5-2020 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V)

Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận tại phiên tòa:

Người bào chữa bà Bùi Thị H,Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H, có quan điểm bào chữa cho Đặng Văn D, nhất trí quan điểm của Kiểm sát viên xác định bị cáo Đặng Văn D phạm tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015 như đã truy tố là đúng, bị cáo D có thái độ ăn năn hối cải, thật thà khai báo, đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại, gia đình thuộc hộ nghèo; bị cáo thuộc dân tộc ít người, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình làm nông nghiệp thu nhập không ổn định đề nghị HĐXX. Áp dụng khoản 1 Điều 128; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Văn D từ 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

5

Về trách nhiệm dân sự đã bồi thường theo quy định. Đề nghị miễn giảm toàn bộ án phí cho bị cáo D

Bị cáo D có quan điểm nhất trí với quan điểm của người bào chữa.

Quyền của bị cáo nói lời sau cùng:

Bị cáo D nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt tù sớm về với cộng đồng và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra biện pháp cấn khỏi nơi cư trú, ra quyết định truy tố; thu thập chứng cứ tài liệu, vật chứng đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Văn D khai nhận vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 22-10-2019 tại khu rừng thôn Xuân Phong, xã Linh Hồ, huyện V, tỉnh H. Đặng Văn D cùng H, T, Đ đi săn bắn thú rừng, khi đang đi săn bắn D mang theo 01 khẩu súng tự chế đã nạp đạn, cò súng đã kéo lên, khi D đi phía sau Hthì bị trượt chân vấp ngã, súng bị cướp cò dẫn đến súng nổ, đạn bắn trúng vào phía sau đầu của Nông Thanh H, làm H bị thương tích dẫn đến tử vong. Lời khai của bị cáo Đặng Văn D phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người đại diện của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo Đặng Văn D là người có đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Đặng Văn D dùng súng tự chế đi săn bắn thú rừng, do tính cẩu thả khi đi săn bị cáo D đã vấp ngã, dẫn đến súng cướp cò gây nổ, đạn bắn trúng vào phía sau đầu của Nông Thanh H người đi phía trước, làm Hbị thương tích dẫn đến tử vong với lỗi vô ý làm chết một người. Hành vi phạm tội của bị cáo D đã xâm phạm trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Đặng Văn D phạm tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015 như đại diện Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.

Tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

"1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2..."

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo D không phải chịu tình tiết tăng năng.

6

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại phiên toà và quá trình điều tra, bị cáo D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại, bị cáo thuộc gia đình hộ nghèo sống ở vùng khó khăn, người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội:

Xét thấy hành vi phạm tội bị cáo D khi đi săn cùng H, T, Đ. D mang theo 01 khẩu súng tự chế đã nạp đạn, cò súng đã kéo lên, khi D đi phía sau H thì bị trượt chân vấp ngã, súng bị cướp cò dẫn đến súng nổ, đạn bắn trúng vào phía sau đầu của Nông Thanh H, làm H bị thương tích dẫn đến tử vong là rất nguy hiển cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý, đã xâm phạm trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy để có tác dụng giáo dục bị cáo D có ý thức tuân theo pháp luật, cần cách ly bị cáo trong trại cải tạo một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung loại tội phạm này theo quy định tại khoản 1 Điều 128 BLHS là phù hợp với quan điểm của Kiểm sát viên đưa ra tại phiên tòa.

Bị cáo Đặng Văn D bị xử phạt: 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 21/2020/HSST Ngày 22 tháng 5 năm 2020 Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H (bản án chưa có hiệu lực pháp luật) nên HĐXX chưa tổng hợp được hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự:

Người đại diện cho bị hại đã thừa nhận phần bồi thường trách nhiệm dân sự bị cáo D đã bồi thường xong, về trách nhiệm hình sự đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D và không yêu cầu bị cáo D phải bồi thường bổ sung. Do vậy, HĐXX không xem xét giải quyết.

Về vật chứng vụ án:

Tịch thu tiêu hủy:

* Giao cho Công an huyện V, tỉnh H tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm:

- 01 khẩu súng màu đen, tổng chiều dài là 1,4m bằng kim loại, nòng súng bằng kim loại dài 73cm, đường kính nòng 1,1cm, báng súng và tay cầm làm bằng kim loại. Trên súng có gắn một ống bằng kim loại màu đen (được bịt kín hai đầu bằng nắp nhựa màu đen) dài 33cm, đường kính 5,1cm;

- 01 khẩu súng (loại súng kíp) màu đen, phần báng súng bằng gỗ dài 1,3m, nòng súng bằng kim loại hình tròn dài 1,33m, rộng 1,5cm. Cò, búa đập bằng kim loại;

- 11 viên kim loại hình trụ, màu xám kích thước 06 x 05mm;

- 02 mảnh kim loại, màu đen (sẫm màu) kích thước 0,5 x 0,3 x 0,3cm và kích thước 0,1 x 0,6 x 0,5cm;

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số: 19/PNK ngày 19-03-2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V).

7

* Giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện V tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng, chủ sở hữu từ trối nhận lại tài sản gồm.

- 01 Chiếc bơm bằng kim loại dài 81cm, tay cầm bằng cao su màu đen, dài 26cm, chân bơm gắn một ống dài 59cm, đã qua sử dụng;

- 03 Chiếc đèn chiếu sáng màu đen (loại đèn pin treo đầu), trên đèn có gắn một thanh gỗ dài 15cm, 01 dây cao su màu đen gắn 02 đầu thanh gỗ, đều đã qua sử dụng;

- 01 Chiếc đèn chiếu sáng màu đen (loại đèn pin treo đầu có 03 dây), đã qua sử dụng.

(Theo như biên bản bàn giao ngày 22-5-2020 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V)

Theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 63; Điều 70; Điều 71 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017; Nghị định số 79/2018/ NĐ/CP ngày 16- 5 -2018 của Chính phủ “ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành quản lý, sử dụng vũ khí vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ”

Về án phí: Bị cáo D thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn giảm án phí. Xét thấy bị cáo D có đủ điều kiện được miễn án phí theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 14 theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện của bị hại; người bào chữa có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với Lý Văn T và Triệu Văn Đ là những người đi săn bắn cùng với D và H, quá trình điều tra T và Đ khai nhận khi đi săn bắn và sinh sống tại địa phương không xảy ra mâu thuẫn với nhau. Việc D bị vấp ngã đã làm súng cướp cò tự nổ dẫn đến H bị thương tích và tử vong. T và Đ không có tác động gì dẫn đến nguyên nhân chết của H. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý (BL số 114 đến 134).

Đối với hành vi của Đặng Văn D đã tự ý sử dụng súng săn chưa có sự cho phép của cơ quan chức năng mặc dù đã được chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động giao nộp vũ khí vật liệu nổ nhưng D không chấp hành. Do vậy ngày 08-5-2020 Công an huyện Vđã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D về hành vi “ Không giao nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ theo quy định” được quy định tại điểm g khoản 3 Điều 10 Nghị định số 167/2013 ngày 12-11-2013 của Chính phủ với mức phạt là 3.000.000đ (Ba triệu đồng chẵn). (BL số 156 ).

Đối với hành vi sử dụng súng để săn bắn của Nông Thanh H khi chưa được sự cho phép của cơ quan chức năng là vi phạm pháp luật. Nhưng do Hđã tử vong nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên.

8

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên xử bị cáo Đặng Văn D phạm tội “Vô ý làm chết người”. Xử phạt bị cáo Đặng Văn D 15 (mười năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo D đi chấp hành án phạt tù.

Về trách nhiệm dân sự: không

Về vật chứng:

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 63; Điều 70; Điều 71 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017; Nghị định số 79/2018/ NĐ/CP ngày 16- 5 -2018 của Chính phủ “ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành quản lý, sử dụng vũ khí vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ”

* Giao cho Công an huyện V, tỉnh H tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm:

- 01 khẩu súng màu đen, tổng chiều dài là 1,4m bằng kim loại, nòng súng bằng kim loại dài 73cm, đường kính nòng 1,1cm, báng súng và tay cầm làm bằng kim loại. Trên súng có gắn một ống bằng kim loại màu đen (được bịt kín hai đầu bằng nắp nhựa màu đen) dài 33cm, đường kính 5,1cm;

- 01 khẩu súng (loại súng kíp) màu đen, phần báng súng bằng gỗ dài 1,3m, nòng súng bằng kim loại hình tròn dài 1,33m, rộng 1,5cm. Cò, búa đập bằng kim loại;

- 11 viên kim loại hình trụ, màu xám kích thước 06 x 05mm;

- 02 mảnh kim loại, màu đen (sẫm màu) kích thước 0,5 x 0,3 x 0,3cm và kích thước 0,1 x 0,6 x 0,5cm;

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số: 19/PNK ngày 19-03-2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V).

* Giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện V tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm:

- 01 Chiếc bơm bằng kim loại dài 81cm, tay cầm bằng cao su màu đen, dài 26cm, chân bơm gắn một ống dài 59cm, đã qua sử dụng;

- 03 Chiếc đèn chiếu sáng màu đen (loại đèn pin treo đầu), trên đèn có gắn một thanh gỗ dài 15cm, 01 dây cao su màu đen gắn 02 đầu thanh gỗ, đều đã qua sử dụng;

- 01 Chiếc đén chiếu sáng màu đen (loại đèn pin treo đầu có 03 dây), đã qua sử dụng.

(Theo như biên bản bàn giao ngày 22-5-2020 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V)

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 14 theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Bị cáo Đặng Văn D không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

9

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Báo cho bị cáo, người đại diện của bị hại, người bào chữa có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10-06-2020).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pHthi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ