- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Đức T (trộm cắp tài sản) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2020/HS-ST Ngày: 30-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Nhị;
Ông Nguyễn Văn Năm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Đức T, (tên gọi khác: L); sinh năm 1987. Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp 1, xã L, huyện T, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Võ Văn H; Mẹ: Lê Thị T; Anh chị em có 08 người: Lớn sinh năm 1977, nhỏ sinh năm 1992.
Tiền án: không
Tiền sự: Ngày 27/6/2017, bị Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 11/7/2019 chấp hành xong.
Ngày 27/5/2020, bị Công an xã Tân Long phạt 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa đóng phạt)
Nhân thân:
Ngày 23/7/2009 bị TAND huyện Châu Thành, tỉnh Long An xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 03/11/2010 chấp hành xong;
Ngày 25/10/2011 bị TAND huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 23/6/2012 chấp hành xong.
Bị tạm giam từ ngày 12/6/2020 cho đến nay (có mặt).
- Bị hại: Anh Huỳnh Thế H, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp 1, xã L, huyện T, tỉnh Long An. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1951. Địa chỉ: Ấp 1, xã L, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Đức T là đối tượng nghiệm ma tuý. Khoảng 03 giờ sáng ngày 21/5/2020, Võ Đức T đi bộ từ nhà đến nhà của bà Nguyễn Thị Đ nhìn thấy ở gốc cây xanh, cặp hông bên trái nhà bà Đương có 02 xe mô tô (01 xe biển số 54V3-4454 có khoá cổ xe, 01 xe biển số 62G1-084.06 có gắn chìa khoá trên xe, đều của anh Huỳnh Thế H) không có người trông coi. Để có phương tiện đi mua ma tuý sử dụng, Võ Đức T đã Ln lút tiếp cận và lấy trộm xe mô tô biển số 62G1-084.06 chạy về hướng thị trấn H, huyện H, tỉnh Long An gặp một người đàn ông không rõ lai lịch mua 100.000đ ma tuý loại Heroin. Sau khi có ma tuý, Võ Đức T đã sử dụng hết số ma tuý và bị sốc nên T nằm nghỉ. Khi tỉnh lại, Võ Đức T điều khiển xe mô tô 62G1-084.06 chạy về hướng cầu Đức Huệ. Trên đường đi, Võ Đức T dừng xe lại tháo biển số 62G1-084.06 bỏ vào bên trong cốp xe (để chủ xe và lực lượng Công an không truy tìm được xe). Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe chạy qua cầu Đức Huệ thì bị lực lượng Công an thị trấn Đông Thành, huyện Đức Huệ ra tín hiệu dừng xe. T không chấp hành, tăng ga bỏ chạy được khoảng 200m thì bị bắt giữ. Ngày 22/5/2020, anh Huỳnh Thế H đến cơ quan Công an trình báo vụ việc. tại cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa, Võ Đức T đã thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 464/KL-HĐĐG ngày 08/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thủ Thừa kết luận: xe mô tô biển số 62G1-084.06 của anh Huỳnh Thế H trị giá 4.266.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 07/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa truy tố Võ Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” . Đại diện Viện kiểm sát phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo T từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Bị cáo và bị hại không thực hiện quyền tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố vụ án thì hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và kiểm sát viên tiến hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Đức T đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại Cơ quan Điều tra và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 03 giờ sáng ngày 21/5/2020, do cần có phương tiện để đi mua ma tuý sử dụng. Võ Đức T đã thực hiện hành vi Ln lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 62G1-084.06 của anh Huỳnh Thế H, trị giá 4.266.000đ, đang đậu ở gốc cây xanh, cặp hông bên trái nhà bà Nguyễn Thị Đ. Do đó hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã phản ánh đúng hành vi mà bị cáo T đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi trái pháp luật của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện do lỗi cố ý, hành vi đó không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo là người có nhân thân không tốt, có hai tiền sự và hai lần bị Tòa án xử phạt tù về hành vi Trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không chịu cải sửa để trở thành người tốt nay lại tiếp tục trộm cắp tài sản. Do đó, cần thiết phải xử lý bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như: sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn.
Đề nghị về mức hình phạt của ông Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa có thu giữ vật chứng gồm: Xe mô tô biển số 62G1-084.06. Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa đã trả lại cho anh Huỳnh Thế Hoài. Xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Võ Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; Các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Võ Đức T (tên gọi khác: L) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 12/6/2020).
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Võ Đức T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/7/2020) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung vào công qu Nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo và bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30-7-2020). Riêng bà Nguyễn Thị Đ vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Thủ Thừa; - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa; - Công an huyện Thủ Thừa; - Sở tư pháp tỉnh Long An; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tuấn |