- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vang Van D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Vàng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2020/HS-ST Ngày 28 tháng 4 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Minh Quý;
2. Ông Lò Văn Chiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Lương Gia Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2020/TLST-HS, ngày 20 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Văn Đ, tên gọi khác: không, sinh năm 1985, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản N, xã B, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Giáy; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Văn O, sinh năm 1965 và bà Vàng Thị V, sinh năm 1964; Bị cáo có vợ là Vàng Thị P, sinh năm 1988 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/11/2019 đến ngày 05/12/2019, hiện đang được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Anh Lành Văn T, sinh năm 1984, địa chỉ: Bản Lang 2, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 26/11/2019, Vàng Văn Đ đi bộ một mình thuộc khu vực bản Hợp I, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu thì gặp hai người thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Qua nói chuyện, một trong hai người thanh niên đó nói nhờ Đ đi mua Heroine hộ, khi mua được về sẽ cho Đ cùng sử dụng. Đ đồng ý và nhận số tiền 150.000 Đ từ người thanh niên đó rồi đi tìm mua Heroine. Đi đến khu vực gần nhà vệ sinh của ông Mào Văn P tại bản Hợp I, xã Bản Lang, Đ gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ, Đ hỏi và nhờ người đàn ông đó mua hộ Heroine. Đ đưa cho người đó số tiền 150.000 Đ và đứng đợi ở đó. Khoảng 20 phút sau, người đàn ông đó quay lại đưa cho Đ 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng buộc thắt lại. Nhận gói Heroine, Đ lấy tờ tiền mệnh giá 1.000 Đ có sẵn trong túi ra cho gói Heroine vào gói gấp lại và cầm trong lòng bàn tay trái đi về tìm gặp người thanh niên đã nhờ Đ mua hộ. Khoảng 21 giờ 20 phút, cùng ngày 26/11/2019, khi Đ đi đến khu vực đầu bản Hợp I, xã Bản Lang thì gặp tổ công tác Công an xã Bản Lang đang làm nhiệm vụ. Đ đã ném gói Heroine xuống đất nhưng bị tổ công tác kịp thời phát hiện, bắt quả tang và lập biên bản.
Vật chứng thu giữ của vụ án là một gói chất bột khô màu trắng, được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng buộc thắt lại, bên ngoài được gói bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 Đ.
Qua các kết quả trưng cầu giám định đã xác định được số chất bột màu trắng thu giữ của Vàng Văn Đ là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,27 gam.
Tại bản Cáo trạng số: 19/CT-VKS, ngày 20 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Vàng Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội Đ xét xử tuyên bố bị cáo Vàng Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 cảu Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Văn Đ từ 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng đến 01 (Một) năm 10 (Mười) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng dùng để gói số Heroine trong vụ án và toàn bộ vỏ niêm phong cũ. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.000 Đ thu giữ của bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên đề nghị Hội Đ xét xử miễn án phí hình sư sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội Đ xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội mà bị cáo Vàng Văn Đ đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản mở niêm phong vật chứng; kết luận giám định; lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định:
Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 26/11/2019, tại địa phận bản Hợp I, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an xã Bản Lang đang làm nhiệm vụ, đã phát hiện Vàng Văn Đ đang cầm trên tay 01 gói chất bột khô màu trắng, được gói ngoài bằng một lớp nilon màu hồng và gói ngoài bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 Đ. Tổ công tác tiến hành lập biên bản và thu giữ toàn bộ tang vật. Qua trưng cầu giám định, xác định được số chất bột khô màu trắng thu giữ của Vàng Văn Đ là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,27 gam.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ Heroine là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai số Heroine bị thu giữ là bị cáo mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, lai lịch cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra xử lý đối với người đàn ông đó.
Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội Đ xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, Đ thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, nghề nghiệp làm ruộng, bản thân là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên Hội Đ xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số Heroine thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định không hoàn lại. Còn lại 01 mảnh nilon màu hồng, dùng để gói số Heroine trong vụ án cùng vỏ niêm phong cũ là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 Đ do bị cáo dùng để gói Heroine nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
1. Bị cáo Vàng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vàng Văn Đ: 01 (Một) năm 10 (Mười) tháng tù.
Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 26/11/2019 đến ngày 05/11/2019. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng, dùng để gói số Heroine trong vụ án cùng toàn bộ vỏ niêm phong cũ. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 Đ thu giữ của bị cáo.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản được lập hồi 15 giờ 00 phút, ngày 23/3/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
3. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Phong Thổ; - CA huyện Phong Thổ (CQ CSĐT, THAHS); - Chi cục THADS huyện Phong Thổ; - Ủy ban nhân dân xã Bản Lang; - Bị cáo; - Lưu: HS. | TM. HỘI Đ XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |