- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Văn H - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đàm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2020/HS-ST Ngày 21 - 4 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Thụy.
Ông Hà Văn Kim.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tr n Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Đàm Văn H, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1989 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn h a: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Văn P, sinh năm 1958 và bà Lý Thị P1, sinh năm 1960; vợ Phạm Thị T, sinh năm 1993 và 01 con, sinh năm 2013; tiền án, tiền sự không có; bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C từ ngày 21 tháng 01 năm 2020 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Chị Lương Thùy N, sinh năm 1998. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt, c đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Lý Văn N1, sinh năm 1982. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt, c đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Ông Lý Văn L, sinh năm 1966. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt, c đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 12 tháng 01 năm 2020, Đàm Văn H sinh năm 1989, trú tại thôn P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, đi chơi về đến cổng nhà Đàm Văn H, thấy cổng và cửa chính nhà trọ của Lương Thùy N sinh năm 1998, trú tại thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, thuê của ông Lý Văn L sinh năm 1966, trú tại thôn Đ, thị trấn C, huyện C, đối diện với nhà Đàm Văn H đang mở nên Đàm Văn H đi đến nhà trọ của Lương Thùy N với mục đích gọi để nói chuyện. Đàm Văn H đứng ngoài cổng gọi “Em ơi” nhưng không c ai trả lời. Đàm Văn H đi qua cổng vào trong sân tiếp tục gọi nhưng không c ai trả lời nên Đàm Văn H đi qua cửa chính vào trong nhà gọi tiếp nhưng không c ai trả lời. Đàm Văn H nhìn vào gian phòng ngủ của Lương Thùy N thấy 01 chiếc điện thoại di động, màu hồng, để trên lớp đệm xốp dưới sàn nhà, cạnh giường ngủ, đang cắm sạc. Đàm Văn H nảy sinh ý định trộm lấy chiếc điện thoại di động để sử dụng. Đàm Văn H liền đi vào bên trong phòng ngủ, tay phải c m lấy chiếc điện thoại, tay trái rút dây sạc ra khỏi điện thoại. Khi đ Đàm Văn H biết là điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone không rõ Iphone thế hệ mấy, Đàm Văn H bấm vào nút nguồn điện thoại thấy màn hình sáng, có mật khẩu khóa màn hình nên không mở được, Đàm Văn H tắt nguồn điện thoại, rồi cho vào túi áo khoác bên phải và đi ra khỏi nhà trọ. Sau đ Đàm Văn H đi bộ trên đường bê tông dân sinh thôn P, thị trấn C, huyện C về phía quốc lộ 1A, mục đích tìm chỗ cất giấu chiếc điện thoại. Trên đường đi, Đàm Văn H thấy có một cái cột điện bê tông, xung quanh cỏ mọc rậm rạp ở bên ngoài tường rào nhà Đặng Thanh V, trú tại thôn P, thị trấn C, huyện C, quan sát xung quanh không có ai, Đàm Văn H để chiếc điện thoại di động trộm cắp được vào chân cột điện, sau đ đi về nhà. Đến khoảng 11 giờ ngày 20 tháng 01 năm 2020, Đàm Văn H đến quán tạp hóa của Lý Văn N1 sinh năm 1982, trú tại thôn P, thị trấn C, huyện C để mua thuốc lá, lúc này Đàm Văn H nảy sinh ý định bán chiếc điện thoại di động mà Đàm Văn H trộm được cho Lý Văn N1 để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đàm Văn H hỏi Nghi “Em c chiếc điện thoại di động, anh mua không?”, Lý Văn N1 n i “Điện thoại đâu, lấy anh xem”, Đàm Văn H trả lời “Điện thoại em để ở nhà, để em về lấy”. Sau đ , Đàm Văn H đến chỗ cột điện bê tông mà Đàm Văn H đã cất giấu chiếc điện thoại, rồi lấy chiếc điện thoại di động quay lại quán tạp hóa của Lý Văn N1. Tại quán của Lý Văn N1, Đàm Văn H bấm nút nguồn để khởi động điện thoại rồi đưa cho Lý Văn N1 xem, Lý Văn N1 kiểm tra thấy màn hình điện thoại sáng rồi hỏi Đàm Văn H “Điện thoại bán bao nhiêu?”, Đàm Văn H trả lời “Bán một triệu”, Lý Văn N1 n i “Được năm trăm thì anh mua”, Đàm Văn H đồng ý. Lý Văn N1 không kiểm tra gì thêm điện thoại mà trả cho Đàm Văn H số tiền 500.000 đồng. Đàm Văn H nhận tiền xong rồi ngồi chơi ở quán tạp hóa của Lý Văn N1 khoảng 10 phút rồi đi về. Đến chiều tối cùng ngày, Lý Văn N1 kiểm tra chiếc điện thoại di động mua với Đàm Văn H thì phát hiện có mật khẩu màn hình, Lý Văn N1 không mở được. Do nghi ngờ chiếc điện thoại di động mà Đàm Văn H bán không phải là của Đàm Văn H nên Lý Văn N1 đã tìm Đàm Văn H để trả lại điện thoại và đòi lại số tiền 500.000 đồng nhưng không tìm thấy Đàm Văn H. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Lý Văn N1 đến Công an huyện C giao nộp chiếc điện thoại di động mà Đàm Văn H đã bán cho Lý Văn N1. Ngày 20 tháng 01 năm 2020, Lương Thùy N đã trình báo Công an huyện C về việc ngày 12 tháng 01 năm 2020, tại nhà trọ ở thôn P, thị trấn C, huyện C, Lương Thùy N bị mất 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu APPLE Iphone 6s plus, màu hồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: Giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 6s plus, màu hồng là 2.500.000 đồng.
Cáo trạng số: 30/CT-VKSCL ngày 31 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đàm Văn H về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Đàm Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm buộc tội bị cáo như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đàm Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đàm Văn H từ 01 năm đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Đàm Văn H không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đ y đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Đàm Văn H đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, c đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 12 tháng 01 năm 2020, tại nhà trọ của Lương Thùy N ở thôn P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Đàm Văn H đã c hành vi lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu APPLE Iphone 6s plus, màu hồng của chị Lương Thùy N, có trị giá là 2.500.000 đồng. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là c căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo Đàm Văn H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đ ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là thanh niên còn trẻ, có thể chất phát triển bình thường, c đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì lười lao động và coi thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo đã một l n bị Tòa án xét xử về hành vi Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích nhưng không lấy đ làm bài học cho bản thân, mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, c n phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình c n xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt.
Về nhân thân: Bị cáo Đàm Văn H không có tiền án, tiền sự, nhưng đã c 01 l n bị Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng xét xử về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 31/2010/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2010, đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 27 tháng 11 năm 2012 và 01 l n bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi Đánh bạc dưới hình thức ghi số lô đề, chấp hành xong ngày 15 tháng 12 năm 2015 nên xác định bị cáo có nhân thân không tốt. Tình tiết tăng nặng không có. Tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Đàm Văn H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét xét thấy để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội, c n thiết phải cách ly bị cáo Đàm Văn Hra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định.
Đối với Lý Văn N1 là người đã mua chiếc điện thoại di động của Đàm Văn H, Lý Văn N1 không biết là điện thoại do Đàm Văn H trộm cắp mà có nên không xem xét, xử lý. Lý Văn N1 không yêu c u Đàm Văn H phải trả lại 500.000 đồng, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Đàm Văn H sống chung cùng gia đình, không có tài sản riêng, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[10] Xác nhận ngày 22 tháng 01 năm 2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại tài sản bị trộm cắp cho chủ sở hữu chị Lương Thùy N, chị Lương Thùy N không có yêu c u về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bị cáo Đàm Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đàm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đàm Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 01 năm 2020.
3. Về án phí: Bị cáo Đàm Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân huyện C; - Cơ quan điều tra Công an huyện C; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện C; - Nhà tạm giữ Công an huyện C; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện C; - Những người tham gia tố tụng; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thanh Huyền |