- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Huy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2020/HS-ST Ngày 22-7-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dương Công Khoan
Ông Nông Văn Bằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Đông, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn tham gia phiên tòa: Bà Dương Mai Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2020 tại nhà văn hóa xã Đồng Ý, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Hoàng Văn H, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1992 tại xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Hoàng Văn H2, sinh năm 1972; con bà: Bế Thị T, sinh năm 1973; anh chị em ruột: Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là thứ nhất; vợ, con: chưa có; tiền án: Có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản.
+ Ngày 26/9/2017 bị TAND huyện Bắc Sơn tuyên phạt 09 (chín) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 20/3/2018 chấp hành xong trở về địa phương.
+ Ngày 26/2/2019 bị TAND huyện Bắc Sơn tuyên phạt 01 (một) năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/10/2019 chấp hành xong trở về địa phương. tiền sự: Không; nhân thân: Có 02 tiền án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 01/4/2020 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Anh Bế Văn S, sinh năm 1990
Trú tại: Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn
Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bế Văn H1, sinh năm 1974; trú tại: Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 15/02/2020 do cần tiền để mua ma túy về sử dụng, Hoàng Văn H, sinh năm 1992, trú tại: Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn một mình đi bộ từ nhà đi về hướng thôn L, xã T, huyện B với mục đích xem có gia đình nào trong xã có tài sản sơ hở, không có người trông coi thì lấy trộm về bán lấy tiền mua ma túy về sử dụng. Khi Hoàng Văn H đi đến gần nhà anh Bế Văn S, sinh năm 1990, trú tại thôn L, xã T, huyện B quan sát thấy nhà anh Bế Văn S khóa cửa, trong nhà sáng điện nhưng không thấy có ai, Hoàng Văn H đi ra phía sau nhà thấy có xếp một đống gỗ nên nảy sinh ý định lấy trộm gỗ của anh S đi bán. Thực hiện ý định đó, Hoàng Văn H rút lấy trộm 03 (ba) hộp gỗ rồi lần lượt vác mỗi lần 01 (một) hộp ra phía sau nhà anh S cách nhà khoảng 50m cất giấu, sau đó Hoàng Văn H ngồi nghỉ khoảng 10 phút rồi đi tìm nơi tiêu thụ, lúc đó Hoàng Văn H nghĩ nhà ông Bế Văn H1 sinh năm 1974 nhà ở thôn L, xã T, huyện B thường mua gỗ nên Hoàng Văn H vác 03 (ba) hộp gỗ vừa lấy trộm được lần lượt vác đến để gần nhà ông Bế Văn H1 cách vị trí để gỗ khoảng 500m. Khi gặp ông Bế Văn H1, Hoàng Văn H hỏi “Chú có mua gỗ không?” ông H1 trả lời “Có” và hỏi “Lấy gỗ ở đâu?”, Hoàng Văn H trả lời “Gỗ của nhà cháu” rồi H ra ngoài vác 03 (ba) hộp gỗ vào cho ông H1 xem và hỏi ông H1 “mỗi hộp bao nhiêu tiền?” ông H1 xem gỗ rồi lấy tiền trả cho H mỗi hộp 250.000đ, (hai trăm năm mươi nghìn đồng), tổng 03 (ba) hộp gỗ ông Bế Văn H1 trả cho Hoàng Văn H 750.000đ (bẩy trăm năm mươi nghìn đồng), Hoàng Văn H nhận tiền sau đó một mình đi mua ma túy về sử dụng hết.
Ngày 31/3/2020 anh Bế Văn S đến nhà ông Bế Văn H1 để xây nhà cho ông H1, nhìn thấy phía dưới gầm nhà của ông H1 có 03 (ba) hộp gỗ giống hộp gỗ của mình nên hỏi ông H1 “Số gỗ này mua ở đâu?” ông H1 trả lời “Tao mua với một người tên H ở L, H bán cho với giá là 750.000đ” sau đó anh Bế Văn S đi về nhà kiểm tra và phát hiện nhà bị mất trộm một số gỗ tạp nên đã đến ban Công an xã T trình báo. Cơ quan Công an đã tiến hành triệu tập Hoàng Văn H lên làm việc, tại Cơ quan Công an Hoàng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như trên.
Để có căn cứ xử lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn đã ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản số 04 ngày 01/4/2020 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn để xác định giá trị của 03 (ba) hộp gỗ bị Hoàng Văn H lấy trộm.
Tại bản Kết luận về việc định giá tài sản số 04 ngày 01/04/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bắc Sơn, kết luận: Tại thời điểm bị mất trộm 03 (ba) hộp gỗ có trị giá 760.000VNĐ (bẩy trăm sáu mươi nghìn đồng).
Tiến hành xác minh nhân thân, lý lịch bị can Hoàng Văn H xác định được Hoàng Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn xử phạt 09 (chín) tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản tại Bản án số 29/2017/HSST ngày 26/9/2017. Ngày 20/3/2018 Hoàng Văn H chấp hành xong án phạt tù tại trại giam Vinh Quang, Bộ Công an trở về địa phương. Tại bản án số 02/2019/HS-ST ngày 26/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn xử phạt Hoàng Văn H 01 (một) năm tù giam về tội trộm cắp tài sản. Ngày 30/10/2020 Hoàng Văn H chấp hành xong án phạt tù tại trại giam Hoàng Tiến. Căn cứ khoản 1, Điều 69; điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự thì khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 15/02/2020 Hoàng Văn H chưa được xóa án tích.
Với kết quả xác minh như trên cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, ngày 01/04/2020 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Bắc Sơn ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Hoàng Văn H để điều tra về tội trộm cắp tài sản quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đối với ông Bế Văn H1 là người đã bỏ tiền ra mua 03 (ba) hộp gỗ với Hoàng Văn H, khi mua gỗ với H ông H1 không biết số gỗ đó là tài sản do phạm tội mà có, nên không có căn cứ để xử lý đối với ông Bế Văn H1.
Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 26/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Vật chứng của vụ án:
Gồm 01 hộp gỗ (loại gỗ tạp) có kích thước 20cm x 08cm, dài 2,1 mét; 02 hộp gỗ (loại gỗ tạp) có kích thước 20cm x 08cm, dài 2,2 mét. Số vật chứng trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn sẽ bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn bảo quản, quản lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Bế Văn S là chủ sở hữu hợp pháp đề nghị trả lại số tài sản (03 hộp gỗ) trên cho ông để ông tiếp tục quản lý, sử dụng, ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.
Ông Bế Văn H1 sau khi giao nộp số gỗ cho Cơ quan cảnh sát điều tra, do số lượng tài sản không nhiều, giá trị không lớn nên ông Bế Văn H1 không yêu cầu Hoàng Văn H phải hoàn trả số tiền đã bỏ ra mua số gỗ đó.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản riêng.
Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại anh Bế Văn S không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử: Trả lại cho người bị hại anh Bế Văn S 01 hộp gỗ (loại gỗ tạp) có kích thước 20cm x 08cm, dài 2,1 mét; 02 hộp gỗ (loại gỗ tạp) có kích thước 20cm x 08cm, dài 2,2 mét.
Án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, đánh giá toàn diện tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CUẢ TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Sơn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
[2] Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 20 giờ ngày 15/02/2020, tại khu vực thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, Hoàng Văn H sinh năm 1992 là đối tượng đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích lại tiếp tục có hành vi trộm cắp 03 (ba) hộp gỗ của gia đình nhà anh Bế Văn S, sinh năm 1990, trú tại thôn L, xã T, huyện B qua định giá 03 (ba) hộp gỗ có giá trị là 760.000đ (bẩy trăm sáu mươi nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tôi trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn truy tố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của Hoàng Văn H là vi phạm pháp luật, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền về sở hữu tài sản của người khác, gián tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về lĩnh vực trật tự an toàn xã hội, hành vi ấy phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4] Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có 02 tiền án: Ngày 26/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn tuyên phạt 09 (chín) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 20/3/2018 chấp hành xong trở về địa phương. Ngày 26/2/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn tuyên phạt 01 (một) năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/10/2019 chấp hành xong trở về địa phương đến nay chưa được xóa án tích. Do vậy, bị cáo là người có nhân thân xấu.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, do vậy cho bị cáo được hưởng tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
[8] Tại biên bản xác minh của Công an huyện Bắc Sơn ngày 15/5/2020, bị cáo Hoàng Văn H không có thu nhập và tài sản riêng. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa bị hại anh Bế Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bế Văn H1 vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt), quá trình giải quyết vụ án anh Bế Văn S chỉ yêu cầu được trả lại 03 hộp gỗ bị mất trộm đã thu giữ được, ngoài ra không yêu cầu bị cáo phải phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với ông Bế Văn H1 là người đã bỏ tiền ra mua 03 (ba) hộp gỗ với Hoàng Văn H, khi mua gỗ với bị cáo H ông H1 không biết số gỗ đó là tài sản do phạm tội mà có và ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền đã mua gỗ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: trả lại cho người bị hại anh Bế Văn S 02 (Hai) hộp gỗ (loại gỗ tạp) kích thước 20cmx 08cm, dài 2,2m; 01 (một) hộp gỗ (loại gỗ tạp) kích thước 20cm x 08cm, dài 2,1m.
[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt cũng như các vấn đề khác đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
[13] Bị cáo Hoàng Văn H, bị hại anh Bế Văn S; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bế Văn H1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án;
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản".
2. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2020.
3. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho người bị hại anh Bế Văn S 02 (Hai) hộp gỗ (loại gỗ tạp) kích thước 20cmx 08cm, dài 2,2m; 01 (một) hộp gỗ (loại gỗ tạp) kích thước 20cm x 08cm, dài 2,1m.
(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Bắc Sơn với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn ngày 26 tháng 6 năm 2020).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Văn H có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Bế Văn S; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bế Văn H1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Bắc Sơn; - Công an huyện Bắc Sơn; - Chi cục THADS huyện Bắc Sơn; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dƣơng Thị Ngọc |