vanban.org

Bản án 22/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 25/02/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn Q 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Đặng Văn Q cho Ủy ban nhân dân x… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn Q - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2020/HS-PT
Ngày 25 - 02 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Danh

Các Thẩm phán:

Ông Châu Văn Mỹ

Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Duy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Xuyên, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 05/2020/TLPT-HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Đặng Văn Q, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2019/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Tòa án Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Đặng Văn Q, sinh năm 1970 tại H, Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp T, xã Q, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm ruông; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1950; có vợ tên Lê Thị Sấu E, sinh năm 1971, có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2008 tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

Ngoài ra còn có bị hại Lê Út T, sinh năm 1989 không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 05/10/2019, anh Lê Út T đi lại nhà của anh rể tên là Đặng Văn Q tại ấp T, xã Q, huyện H, tỉnh Bạc Liêu để chơi. Sau đó, Q và T đi lại nhà của Lê Văn S ở gần đó để nhậu. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì T và Q nghỉ nhậu và cùng đi về nhà của Q, anh T cởi quần dài đem máng ở nhà sau của Q rồi đi ngủ, trong túi quần của T có để một cái bóp hiệu BOSE, trong bóp có số tiền là 14.100.000 đồng và một số giấy tờ khác. Đến sáng khoảng 09 giờ ngày 06/10/2019, Đặng Văn Q thức dậy trước nhìn thấy cái bóp trong túi quần dài của T nên nảy sinh lấy trộm tiền (vì trước đó khi mua đồ nhậu thì Q nhìn thấy T có nhiều tiền), cho nên Q lấy cái bóp của T rồi lấy một sắp tiền (không có đếm) loại mệnh giá 50.000 đồng và 100.000 đồng để vào cái bóp hiệu CAME rồi đem hai cái bóp giấu ở dưới chiếu trong buồng. Sau khi Lê Út T thức dậy phát hiện cái bóp và toàn bộ số tiền bị mất nên hỏi Q nhưng Quân không thừa nhận lấy trộm, T mới đi tìm thì phát hiện một cái bóp hiệu CAME để ở dưới chiếu trong buồng, trong bóp có số tiền 2.700.000 đồng nhưng Q không thừa nhận lấy trộm, cho nên T mới đi trình báo chính quyền địa phương. Trong thời gian anh T đi trình báo thì Đặng Văn Q vào buồng lấy toàn bộ số tiền còn lại trong bóp hiệu BOSE của anh T để vào bọc nylon màu hồng rồi đem giấu trong bao đựng vỏ dừa khô để ở nhà sau, còn cái bóp thì giấu ở dưới chiếu trong buồng. Sau đó, Đặng Văn Q bị mời ra trụ sở xã Q làm việc thì Q lấy ra số tiền 200.000 đồng chi xài cá nhân.

Đến chiều ngày 07/10/2019, khi Công an huyện H làm việc với Đặng Văn Q thì Q mới thừa nhận hành vi lấy trộm tiền. Đồng thời, Đặng Văn Q lấy tiền giấu trong bọc nylon để trong bao đựng vỏ dừa khô giao nộp lại số tiền là 11.200.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu quyết định: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Văn Q 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/12/2019, bị cáo Đặng Văn Q kháng cáo xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm: Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong hạn là đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, nội dung kháng cáo. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Đặng Văn Q. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2019/HS-ST ngày 27/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, phù hợp lời khai của bị cáo, bị hại trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vì động cơ vụ lợi nên khoảng 09 giờ ngày 06/10/2019, tại nhà của bị cáo Đặng Văn Q thuộc ấp T, xã Q, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, sau khi thức dậy bị cáo Q thấy anh T còn đang ngủ (do trước đó anh T đến nhà bị cáo chơi và ngủ lại) nên lén lúc lấy trộm tiền của anh T với tổng số tiền 14.100.000 đồng là có căn cứ.

[2] Hành vi lén lúc chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị 14.100.000 đồng do bị cáo thực hiện nêu trên có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Bản án sơ thẩm quyết định là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo yêu cầu hưởng án treo của bị cáo Đặng Văn Q, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử lý nghiêm. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm có có xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo và bị cáo có cha, mẹ là người được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, hành vi bị cáo thực hiện không có sự tính toán trước, bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo nên có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt 04 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Như đã phân tích, không chấp nhận lời đề nghị của của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu mà có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

[5] Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Đặng Văn Q. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn Q 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Đặng Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh Bạc Liêu giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

3. Về án phí: Áp dụng các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ