- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị N được ly hôn anh Nguyễn Khương D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2020/HNGĐ-ST Ngày: 11-3-2020 Về việc Ly hôn và con chung khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂNHUYỆNTHUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐHẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sự.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Đắc Hân
2. Bà Nguyễn Thị Lương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà -Thư ký Tòa án nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2020 về việc “Ly hôn và con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2020/QĐST-HGNĐ, ngày 05 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị N; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 10, xã HĐ, huyện TN, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện nay: Thôn An Trại, xã AL, huyện TN, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Khương D; Nơi cư trú: Thôn 10, xã HĐ, huyện TN, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Bùi Thị N trình bày: Chị và anh Nguyễn Khương D kết hôn với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã HĐ vào năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống với nhau tại thôn 10, xã HĐ, huyện TN, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn và căng thẳng nhất vào năm 2018. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế, do mâu thuẫn nên vợ chồng sống thờ ơ lạnh nhạt và chị Ngân đã cùng con về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó đến nay không còn quan tâm nhau, nay chị Ngân xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Khương D.
Về con chung: Chị và anh Duy có 01 con chung tên: Nguyễn Bùi Hà Chi, sinh ngày 12/9/2017, kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay con chung do chị Ngân trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Khi ly hôn nguyện vọng chị Ngân là được tiếp tục nuôi con chung.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Để chị và anh Duy tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Khương D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về việc kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản gửi đến Tòa án ghi ý kiến trình bày quan điểm về việc chị Bùi Thị N xin ly hôn và giải quyết về con chung khi ly hôn.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Bùi Thị N đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn là anh Nguyễn Khương D được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Kiểm sát viên đề nghị Tòa án căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; khoản 2, Điều 277; khoản 1, Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Bùi Thị N và đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ nhân nhân: Cho chị Bùi Thị N được ly hôn anh Nguyễn Khương D; Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao con chung tên: Nguyễn Bùi Hà Chi, sinh ngày 12/9/2017 cho chị Bùi Thị N nuôi dưỡng chăm sóc, cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bùi Thị N không yêu cầu, nên không đề cập giải quyết; Về tài sản chung: Chị Bùi Thị N không có yêu cầu nên không đề cập giải quyết; Về án phí: Nguyên đơn chị Bùi Thị N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Bản sao Sổ hộ khẩu gia đình; Giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao Giấy chứng minh nhân dân mang tên Bùi Thị N; Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã HĐ và Công an xã HĐ, huyện TN, thành phố Hải Phòng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Bùi Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Khương D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 2, Điều 277 và khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về quan hệ hôn nhân:
Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị N và anh Nguyễn Khương D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HĐ, huyện TN, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72, ngày 20/12/2016 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế, vợ chồng sống thờ ơ lạnh nhạt không quan tâm nhau và đã sống ly thân nhau từ năm 2018 đến nay, do mâu thuẫn chị Ngân đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Nay để ổn định cuộc sống chị Ngân đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn anh Nguyễn Khương D. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Duy vắng mặt và cũng không có văn bản nào gửi đến Tòa án trình bày quan điểm về việc chị Ngân xin ly hôn và giải quyết về con chung khi ly hôn. Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ngân và anh Duy đã kéo dài và không còn khả năng đoàn tụ được nữa. Vì vậy căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N, cho chị Bùi Thị N được ly hôn anh Nguyễn Khương D.
. Về con chung: Chị Bùi Thị N và anh Nguyễn Khương D có 01 con chung tên: Nguyễn Bùi Hà Chi, sinh ngày 12/9/2017, kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay con chung do chị Ngân trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Khi ly hôn vì hiện nay con chung còn nhỏ để con ổn định cuộc sống và học tập chị Ngân đề nghị được tiếp tục nuôi con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Khương D vắng mặt không có ý kiến trình bày về con chung, tuy nhiên việc giao con cho ai nuôi cần xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Tài liệu xác minh tại địa phương và gia đình xác định kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay con chung do chị Ngân trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đảm bảo tốt về mọi mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Nguyễn Bùi Hà Chi cho chị Ngân tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi: Chị Bùi Thị N trình bày để chị và anh Duy tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Khương D chưa có ý kiến trình bày về cấp dưỡng nuôi con chung, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về tài sản chung:
Chị Bùi Thị N trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Khương D chưa có ý kiến trình bày về tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Chị Bùi Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; khoản 2, Điều 277; khoản 1, Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51,Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị N được ly hôn anh Nguyễn Khương D.
2. Về con chung: Giao con chung tên cho Nguyễn Bùi Hà Chi, sinh ngày 12/9/2017 cho chị Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Bùi Thị N phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Bùi Thị N đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003441, ngày 05 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TN thành phố Hải Phòng.
Nguyên đơn và Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Sự Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND TP Hải Phòng;
- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;
- Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;
- UBND xã HĐ, huyện TN;
- Lưu: VT; Hồ sơ vụ án.
Lê Thị Sự THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đắc Hân
Doãn Văn Sáng
Lê Thị Sự Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND TP Hải Phòng;
- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;
- Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;
- UBND xã Quảng Thanh, huyện TN;
- Lưu: VT; Hồ sơ vụ án.
Lê Thị Sự THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đông Doãn Văn Sáng
Lê Thị Sự Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND TP Hải Phòng;
- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;
- Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;
- UBND xã Lập Lễ, huyện TN;
- Lưu: VT; Hồ sơ vụ án.
Lê Thị Sự THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đông Doãn Văn Sáng
Lê Thị Sự
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP Hải Phòng; - VKSND huyện Thuỷ Nguyên; - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên; - UBND xã Minh Tân, huyện TN,thành phố Hải Phòng; - Lưu: VT; Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sự |