vanban.org

Bản án 22/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Tuyết L được ly hôn với anh Thái Ngô T. Về việc nuôi con chung: Giao con chung Thái Hoàng D, sinh ngày 02 tháng 7 năm 2012 cho anh Thái Ngô T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung Thái Hoàng K, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2016 cho chị Hoàng Thị Tuyết … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hoàng Thị Tuyết L xin ly hôn anh Thái Ngô T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2020/HNGĐ-ST
Ngày 09-9-2020
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Văn Tỉnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Công Biên

2. Bà Hoàng Thị Chính.

-Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Chính-Thư ký Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đô-Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 112/2020/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 920/2020/QĐXX-ST ngày 31 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 999/2020/QĐST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Tuyết L; địa chỉ: T13, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt

- Bị đơn: Anh Thái Ngô T; địa chỉ: T13, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong Đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ghi ngày 10-5-2020, các Bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Hoàng Thị Tuyết L trình bày:

Chị kết hôn với anh Thái Ngô T lần thứ nhất năm 2008, năm 2014 anh chị ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 81/2014/QĐST-HNGĐ ngày 01/8/2014 của Tòa án nhân dân quận K. Ngày 30/11/2015 anh chị lại kết hôn với nhau lần thứ hai có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận K, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại t13, phường T, quận K. Sau khi kết hôn lần thứ 2 tình cảm của anh chị không những không được cải thiện mà còn căng thẳng hơn trước. Từ năm 2018 đến nay anh chị đã thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nay chị L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đôi bên chung sống với nhau không có hạnh phúc nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T. Về con chung: Anh chị có hai con chung là Thái Hoàng D, sinh ngày 02/7/2012 và Thái Hoàng K, sinh ngày 25/02/2016. Chị L yêu cầu Tòa án giao con chung Thái Hoàng K cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung Thái Hoàng D cho anh Trọng chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thực hiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn là anh Thái Ngô T:

Tại bản tự khai ngày 04-6-2020 và phiên hòa giải ngày 19-6-2020, anh Thái Ngô T trình bày thống nhất với phần trình bày của chị Hoàng Thị Tuyết L về điều kiện, thời điểm và nơi đăng ký kết hôn cũng như quá trình phát sinh mâu thuẫn. Anh cũng xác định do mâu thuẫn vợ chồng đã quá căng thẳng và kéo dài một thời gian dài, tình cảm vợ chồng thực sự không còn khả năng đoàn tụ. Tuy nhiên, anh T trình bày, tháng 8/2019 chị L có mượn của anh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh để vay Ngân hàng TMCP V chi nhánh Hải Phòng số tiền 150.000.000 đồng để sửa nhà của chị L và đến nay chị L vẫn chưa tất toán khoản vay này. Anh chỉ đồng ý ly hôn khi nào chị L trả hết nợ cho Ngân hàng để Ngân hàng giải chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giao lại cho anh. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Thái Hoàng D, sinh ngày 02/7/2012 và Thái Hoàng K, sinh ngày 25/02/2016. Ly hôn thì anh nhận nuôi con chung Thái Hoàng D và đồng ý giao con chung Thái Hoàng K cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thực hiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ngày 25-7-2020 chị L đã tất toán khoản vay của Ngân hàng V. Ngày 28/7/2020 chị giao nộp cho Tòa án tài liệu chứng cứ thể hiện việc Ngân hàng đã giải chấp và giao lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T vào ngày 28-7-2020. Tòa án đã thông báo cho các bên đương sự đến Tòa để tham gia phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T vắng mặt không có lý do.

Quá trình tham gia tố tụng anh T chỉ có mặt tại Tòa án 02 lần, lần thứ nhất là ngày 04-6-2020 để viết bản tự khai trình bày về mâu thuẫn vợ chồng và giao nộp cho Tòa án Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP V với chị Hoàng Thị Tuyết L, lần thứ 2 anh có mặt để tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 19-6-2020; các buổi làm việc sau đó anh T đều vắng mặt tại Tòa án không có lý do. Ngày 28-8-2020 chị Hoàng Thị Tuyết L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tại phiên toà:

Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị L có nội dung chị yêu cầu được ly hôn với anh Thái Ngô T và đề nghị Tòa án giao con chung Thái Hoàng K cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung Thái Hoàng D cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi; việc cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung chị L không đề nghị Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử công bố lời khai của anh T trình bày, anh cũng xác nhận tình trạng hôn nhân và mâu thuẫn của anh chị như lời trình bày của chị L. Tuy nhiên anh chỉ đồng ý ly hôn khi nào chị L trả hết nợ cho Ngân hàng để Ngân hàng giải chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giao lại cho anh. Về con chung anh nhận nuôi con chung Thái Hoàng D và đồng ý để chị L nuôi con chung Thái Hoàng K. Về tài sản chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu chứng cứ do tòa án thu thập và do đương sự cung cấp, các Biên bản xác minh của chính quyền địa phương nơi chị L và anh T cư trú, Biên bản lấy lời khai của đại diện gia đình chị L đều thể hiện nội dung như chị L trình bày, Biên bản ghi lời khai của cháu Thái Hoàng D thể hiện nguyện vọng được ở với bố là anh Thái Ngô T.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không tuân thủ đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại 70 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, đề nghị xử cho chị Hoàng Thị Tuyết L được ly hôn anh Thái Ngô T; về con chung: Đề nghị giao con chung Thái Hoàng K, sinh ngày 25-02-2016 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung Thái Hoàng D, sinh ngày 02/7/2012 cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi; việc cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung, chị L và anh T đều không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét; về án phí: Chị Hoàng Thị Tuyết L phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng nhận định:

- Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị Tuyết L có Đơn khởi kiện (về việc xin ly hôn) với anh Thái Ngô T và đề nghị giải quyết việc nuôi con. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Thái Ngô T là bị đơn trong vụ án có địa chỉ đăng ký thường trú tại tổ 13, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Kiến An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thủ tục giải quyết vụ án: Nguyên đơn là chị Hoàng Thị Tuyết L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Thái Ngô T đã được Toà án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của các đương sự, căn cứ vào chứng cứ do đương sự cung cấp và các tài liệu, chứng cứ do Toà án thu thập đã có đủ cơ sở xác định chị Hoàng Thị Tuyết L kết hôn với anh Thái Ngô T lần thứ nhất năm 2008, năm 2014 anh chị ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 81/2014/QĐST-HNGĐ ngày 01/8/2014 của Tòa án nhân dân quận K. Ngày 30/11/2015 anh chị lại kết hôn với nhau lần thứ hai có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận K, thành phố Hải Phòng (Chứng nhận kết hôn số 50- 2015, quyển số 01/2014), đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi kết hôn lần 2, anh chị chung sống với nhau tại tổ 13, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng, quá trình chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì đôi bên lại phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do quan điểm sống của vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm, đánh chửi nhau. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lan và anh Trọng đã căng thẳng, trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh T là có căn cứ chấp nhận.

Về việc nuôi con chung: Chị L và anh T có hai con chung là Thái Hoàng D, sinh ngày 02/7/2012 và Thái Hoàng K, sinh ngày 25/02/2016. Chị L có nguyện vọng được nuôi con chung Thái Hoàng K và yêu cầu Tòa án giao con chung Thái Hoàng D cho anh T nuôi dưỡng. Tại bản tự khai ngày04-6-2020 anh T cũng đồng ý nuôi con Thái Hoàng D theo yêu cầu của chị L. Hội đồng xét xử xét cả chị L và anh T đều có sức khỏe tốt, có việc làm và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Mặt khác, chị L và anh T có 02 con chung, nên giao cho mỗi người nuôi một con chung là phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế. Tại biên bản làm việc ngày 04/6/2020, cháu Thái Hoàng D trình bày nguyện vọng được ở với bố là anh Thái Ngô T. Xét quan điểm của chị L và anh Trọng là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy đinh của pháp luật, phù hợp với thực tế và phù hợp với nguyện vọng của con chung nên chấp nhận. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị L và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị Tuyết L và anh Thái Ngô T đều không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Chị Hoàng Thị Tuyết L phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị Tuyết L và anh Thái Ngô T được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa là có cơ sở, hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Tuyết L được ly hôn với anh Thái Ngô T.

2. Về việc nuôi con chung: Giao con chung Thái Hoàng D, sinh ngày 02 tháng 7 năm 2012 cho anh Thái Ngô T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung Thái Hoàng K, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2016 cho chị Hoàng Thị Tuyết L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung Tòa án không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Hoàng Thị Tuyết L phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007672 ngày 25 tháng 5 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng. Chị Hoàng Thị Tuyết L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị Tuyết L và anh Thái Ngô T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ