- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị Đào Thị N và anh Trọng Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đào Thị N và anh Trọng Văn T .
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2020/HNGĐ-ST Ngày 08-6-2020 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VB, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Khanh
Bà Vũ Thị Thu Hương
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện VB tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 98/2020/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đào Thị N; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn NT, xã AH, huyện VB, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn Nghĩa Lý, xã HH, huyện VB, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Trọng Văn T ; nơi cư trú: Thôn NT, xã AH, huyện VB, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Đào Thị N trình bày: Chị và anh Trọng Văn T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã AH, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 18-4-2012. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận thời gian đầu và có một con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuối năm 2017 do bất đồng quan điểm, tích cách không hòa hợp, chị thường xuyên bị anh T đánh đập. Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị đã đưa con về gia đình ở thôn Nghĩa Lý, xã HH, huyện VB, thành phố Hải Phòng sinh sống, sau đó anh T đến đón con về nuôi. Thời gian gần đây anh T và gia đình không cho chị thăm gặp con, mỗi lần chị đến thăm con đều bị gia đình anh T ngăn cản, đánh đập. Từ cuối năm 2017 đến nay, vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị N xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trọng Văn T .
Về con chung: Chị và anh Trọng Văn T có 01 con chung là Trọng Văn B, sinh ngày 04-01-2014, hiện đang ở với anh T . Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chị xin tự giải quyết với anh T .
Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn đề nghị, biên bản ghi lời khai và trong quá trình xét xử anh Trọng Văn T xác nhận về điều kiện hoàn cảnh kết hôn như chị Đào Thị N trình bày là đúng. Quá trình chung sống, anh chị hòa thuận được thời gian đầu và có một con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuối năm 2017 do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp, mặt khác chị N thường gây mâu thuẫn với bố mẹ chồng nên đã tự ý bỏ về gia đình ở xã HH, huyện VB, thành phố Hải Phòng sinh sống. Anh đã nhiều lần tìm chị N nhưng chị không về đoàn tụ gia đình. Từ cuối năm 2017 đến nay, vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị N xin ly hôn anh đồng ý ly hôn với chị N .
Về con chung: Anh và chị Đào Thị N 01 con chung là Trọng Văn B, sinh ngày 04-01-2014, hiện đang ở với anh. Khi ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh xin tự giải quyết với chị N .
Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ và các hoạt động tố tụng khác. Nguyên đơn, đã chấp hành yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án như việc giao nộp chứng cứ, tham gia phiên họp, phiên hòa giải theo quy định của pháp luật. Bị đơn không không nộp bản tự khai, không tham gia đầy đủ các các phiên họp, phiên hòa giải. Tuy nhiên, việc bị đơn vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đào Thị N và anh Trọng Văn T . Về con chung: Giao con chung Trọng Văn B, sinh ngày 04-01-2014 cho chị Đào Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị N và anh T tự giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị Đào Thị N và anh Trọng Văn T không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Đào Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Anh Trọng Văn T có hộ khẩu thường trú tại Thôn NT, xã AH, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn giữa chị Đào Thị N và anh Trọng Văn T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.
- Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị N và anh Trọng Văn T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã AH, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 18-4-2012, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận thời gian đầu và có một con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuối năm 2017 do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp nên chị N đã về gia đình ở thôn Nghĩa Lý, xã HH, huyện VB, thành phố Hải Phòng sinh sống. Vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị N và anh T đều xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, anh chị cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đào Thị N và anh Trọng Văn T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu thuận tình ly hôn của chị Đào Thị N và anh Trọng Văn T phù hợp với Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình được chấp nhận.
Về con chung: Chị Đào Thị N và anh Trọng Văn T có một con chung là Trọng Văn B, sinh ngày 04-01-2014. Khi ly hôn, chị N và anh T cùng đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét yêu cầu nuôi con của anh chị, Hội đồng xét xử nhận định: Anh T và chị N đều có nơi ở và thu nhập, tuy nhiên do con chung Trọng Văn B còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của chị N , giao con Trọng Văn B cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chị N và anh T xin tự giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Đào Thị N và anh Trọng Văn T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Đào Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đào Thị N và anh Trọng Văn T .
2. Về con chung: Giao con chung Trọng Văn B, sinh ngày 04-01-2014 cho chị Đào Thị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Đào Thị N và anh Trọng Văn T tự giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Chị Đào Thị N và anh Trọng Văn T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Đào Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị N đã nộp tạm ứng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008062 ngày 24-3-2020. Chị Đào Thị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện VB; - VKSND thành phố Hải Phòng - TAND Thành phố Hải Phòng; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB; - UBND xã AH huyện VB, thành phố Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị ThƣơngHuyền |