vanban.org

Bản án 22/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nghiêm Thị A đối với anh Nguyễn Văn B. Cho ly hôn giữa chị Nghiêm Thị A và anh Nguyễn Văn B.

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Yến C, sinh ngày 15-10-2002 cho anh B tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nghiem Thị T ly hon Nguyen Van C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nghiêm Thị A đối với anh Nguyễn Văn B. Cho ly hôn giữa chị Nghiêm Thị A và anh Nguyễn Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH
——————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2020/HNGĐ-ST.
Ngày 27-5-2020.
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Như Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Đình Nhung

Ông Trần Ái Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thướng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 777/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2020; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nghiêm Thị A, sinh năm 1980; địa chỉ: Ấp D, xã E, huyện F, tỉnh G. (Nay là khu phố D, phường E, thị xã F, tỉnh G)- Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1969; địa chỉ: Ấp D, xã E, huyện F, tỉnh G. (Nay là khu phố D, phường E, thị xã F, tỉnh G)– Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nghiêm Thị A trình bày:

Chị và anh B tự chung sống với nhau năm 2002, không có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện F, tỉnh G. (Nay là phường E, thị xã F, tỉnh G)ngày 15-02-2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống bên chồng tại ấp D, xã E, huyện F, tỉnh G. (Nay là khu phố D, phường E, thị xã F, tỉnh G). Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và ly thân từ năm 2009 đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh B không chăm lo làm ăn mà thường xuyên uống rượu về kiếm chuyện, gây gỗ với chị, anh còn đánh và đuổi chị đi. Không chịu đựng được nên chị bỏ đi từ năm 2009 và vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thị Yến C, sinh ngày 15-10-2002, hiện đang sống với anh B. Sau khi ly hôn về con chung tùy theo ý kiến của con, theo ai người đó nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn B trình bày: Thống nhất lời trình bày của chị A về ngày tháng chung sống, con chung, tài sản chung, nợ chung và thời gian ly thân là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn do chị A tự bỏ nhà đi, anh không biết lý do tại sao vợ bỏ đi; dù trong cuộc sống hàng ngày vợ chồng cũng có cãi vã nhau do tính tình không hợp nhau. Nay anh đồng ý ly hôn với chị A.

Về con chung: Anh yêu cầu được nuôi, không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây

Ninh:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt kéo dài thời gian giải quyết vụ án; sau đó bị đơn mới cung cấp lời khai và làm đơn xin vắng mặt do đó bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

2. Việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị A đối với anh B .

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Yến C, sinh ngày 15-10-2002 cho anh B tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận anh B không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn B vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân: Chị A và anh B tự nguyện chung sống với nhau năm 2002, có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện F, tỉnh G. (Nay là khu phố D, phường E, thị xã F, tỉnh G) ngày 15-02-2008. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2009 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do trong thời gian chung sống chị A cho rằng anh B không chăm lo cho cuộc sống gia đình mà thường xuyên uống rượu về kiếm chuyện gây gỗ, đánh chị và đuổi chị đi. Riêng anh B lại cho rằng do chị A tự bỏ nhà đi, anh không biết lý do tại sao nhưng anh cũng thừa nhận trong quá trình chung sống vợ chồng có cãi vã nhau do tính tình không hợp. Hiện cả chị A và anh B đều có mong muốn được ly hôn. Từ đó cho thấy, cả hai người đã bỏ mặc cuộc hôn nhân của mình, không còn ý muốn đoàn tụ chung sống. Vì vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị A và anh B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nhận thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A đối với anh B theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Cháu Nguyễn Thị Yến C, sinh ngày 15-10-2002, hiện nay cháu đang sống cùng anh B, qua làm việc cháu có nguyện vọng được sống cùng với cha. Hiện anh B có yêu cầu được nuôi con và chị A cũng đồng ý giao con cho anh B nuôi. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao anh B được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu C là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận anh B không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

Án phí: Chị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nghiêm Thị A đối với anh Nguyễn Văn B. Cho ly hôn giữa chị Nghiêm Thị A và anh Nguyễn Văn B.

2. Về con chung:

- Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Yến C, sinh ngày 15-10-2002 cho anh B tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Ghi nhận anh B không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con.

- Chị A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Án phí: Chị Nghiêm Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017803 ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng (Nay là Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng); Chị A đã nộp đủ án phí.

5. Quyền kháng cáo: Chị A được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ