- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa nguyên đơn Thạch Thị O và bị đơn Đặng Bích L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Thạch Thị O ly hôn với anh Đặng Bích L
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2020/HNGĐ-ST Ngày: 01/6/2020 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hải Nam
Bà Nguyễn Thị Thơm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Nguyễn Mộng Cầm – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Phương Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 01tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 55/2020/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 2 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐST-HNGĐ ngày 23/4/2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị O, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp V, xã H, huyện T1, tỉnh Vĩnh Long.
Tạm trú ấp T2, xã T3, huyện C, tỉnh Trà Vinh
- Bị đơn: Anh Đặng Bích L, sinh năm 1982.(Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp V, xã H, huyện T1, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai cùng ngày 07/02/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thạch Thị O trình bày: Chị và anh Đặng Bích L thành hôn vào năm 2007 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện T1, tỉnh Vĩnh Long ngày 31/10/2007. Thời gian vợ chồng chung sống được gần 09 năm lúc đầu có hạnh phúc, sau thường phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm nên vợ chồng đã ly thân nhau khoảng 04 năm nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống, chị yêu cầu được ly hôn với anh L. Về con chung, vợ chồng có 02 con chung tên Đặng Bảo D, sinh ngày 29/11/2007 và Đặng Chí T, sinh ngày 22/11/2009 hiện đang sống chung với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung chị O không yêu cầu giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn là anh Đặng Bích L. Đồng thời triệu tập các đương sự đến tham gia phiên hoà giải nhiều lần nhưng phía anh L không trình bày ý kiến bằng văn bản gởi cho Toà án. Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập các đương sự đến tham gia phiên toà nhưng anh L vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Đặng Bích L tại phiên toà hôm nay.
Cháu Đặng Chí T trình bày: Nguyện vọng con muốn được sống với cha.
Tại biên bản xác minh ngày 22/04/2020 ông Nguyễn Văn T4 trưởng ấp V, xã H trình bày: Chị Thạch Thị O và anh Đặng Bích L có đăng ký hộ khẩu tại địa phương nhưng thời gian vợ chồng sống chung đi làm thuê ở Thành phố Hồ Chí Minh, không sống tại địa phương nên ông không biết xảy ra mâu thuẩn gì. Còn con chung của chị O và anh L gửi cho bà ngoại chăm sóc các cháu được học hành đầy đủ và phát triển bình thường.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa:Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện cơ bản đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. - Về hướng giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng các điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thạch Thị O. Xử cho chị Thạch Thị O được ly hôn với anh Đặng Bích L
- Về con chung: Giao cháu Đặng Bảo D, sinh ngày 29/11/2007 và Đặng Chí T, sinh ngày 22/11/2009 cho chị Thạch Thị O tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đặng Bích L không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nôm chăm sóc giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Thạch Thị O có nghĩa vụ nộp 300.000đ án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự có mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Thạch Thị O có văn bản đề nghị xin vắng mặt. Bị đơn anh Đặng Bích L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẵn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
Về hôn nhân: Chị Thạch Thị O và anh Đặng Bích L thành hôn năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện T1, tỉnh Vĩnh Long ngày 31/10/2007 nên xem đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Quá trình chung sống chị Thạch Thị O trình bày vợ chồng có xảy ra mâu thuẩn và vợ chồng đã cắt đứt quan khoản 04 năm nay. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án triệu tập anh Đặng Bích L nhiều lần đến tham gia hòa giải nhằm giúp đỡ chị O, anh L đoàn tụ nhưng anh L vắng mặt không lý do. Chứng tỏ, anh L không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy: mâu thuẫn vợ chồng giữa chị O và anh L lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Thạch Thị O là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Giữa chị Thạch Thị O và anh Đặng Bích L có 02 con chung là Đặng Bảo D, sinh ngày 29/11/2007 và Đặng Chí T, sinh ngày 22/11/2009 hiện đang sống chung với chị O. Chị O yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy từ khi chị O, anh L chấm dứt quan hệ vợ chồng cháu D và cháu T do chị O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Hai cháu phát triển bình thường được học hành đầy đủ và cháu D có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ. Mặc khác, anh L đã được thông báo về nội dung khởi kiện của chị O nhưng anh L không có ý kiến phản đối về việc chị O yêu cầu tiếp tục nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Đặng Bảo D, sinh ngày 29/11/2007 và Đặng Chí T, sinh ngày 22/11/2009 cho Thạch Thị O tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình. Chị O là người đang trực tiếp nuôi con nhưng chị O không yêu cầu anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn chị Thạch Thị O và anh Đặng Bích L không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Thạch Thị O có nghĩa vụ nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát có căn cứ chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4, Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Thạch Thị O ly hôn với anh Đặng Bích L
2. Về con chung: Giao 02 con chung là Đặng Bảo D, sinh ngày 29/11/2007 và Đặng Chí T, sinh ngày 22/11/2009 cho chị Thạch Thị O tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Đặng Bích L không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc nguyên đơn chị Thạch Thị O có nghĩa vụ nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0015943 ngày 12/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, chị O đã nộp đủ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Nguyên đơn, bị đơn được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh; - Viện kiểm sát nhân dân huyện ; - Chi cục Thi hành án huyện; - Ủy ban nhân dân xã H; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thu Nga |