vanban.org

Bản án 22/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn T.N.Q.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn T.N.Q được ly hôn với anh Trần V.C.T. Về con chung: Chị Nguyễn T.N.Q được nuôi dưỡng Trần V.L, sinh ngày 06/02/2010, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Q tự nguyện không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn T.N.Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H.N
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 08-7-2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H.N, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn C.D.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm V.B.

Ông Nguyễn T.L.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn T.H là Thư ký Tòa án nhân dân huyện H.N, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H.N, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần T.H - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H.N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2020, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn T.N.Q, sinh năm 1988.

Cư trú tại: ấp B.H.T, xã T.T.H.A, huyện H.N, tỉnh Đ.T.

- Bị đơn: Anh Trần V.C.T, sinh năm 1989.

Cư trú tại: ấp B.H.Th, xã T.T.H.A, huyện H.N, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị Q có mặt tại phiên tòa, anh T vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản khai, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn T.N.Q trình bày: Vào năm 2009, chị và anh Trần V.C.T cưới nhau, tìm hiểu trước khoảng 04 tháng, đăng ký kết hôn vào ngày 18/3/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T.T.H.A, huyện H.N, tỉnh Đồng Tháp, cưới xong sống bên gia đình anh T được 06 tháng ra sống riêng, từ khi ra sống riêng thường cãi nhau, nguyên nhân anh T thường xuyên uống rượu không lo cho gia đình và xúc phạm chị nhưng vẫn sống chung. Năm 2019 mâu thuẫn nhiều chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống, từ khi không sống chung không gặp nhau hàn gắn. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Trần V.C.T vì tình cảm không còn.

Về con chung: Chị Q trình bày trong thời gian sống chung với anh T có con chung Trần V.L, sinh ngày 06/02/2010, chị yêu cầu được nuôi dưỡng, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: trong quá trình giải quyết chị Q trình bày sống chung với anh T không có tài sản, tại phiên tòa chị Q trình bày có tài sản nhưng không có giá trị để tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Chị Q trình bày trong thời gian chung sống với anh T không có nợ ai hoặc ai nợ lại, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Trần V.C.T trình bày: Anh và chị Nguyễn T.N.Q cưới nhau năm 2009, hôn nhân tự tìm hiểu nhau, đăng ký kết hôn vào ngày 18/3/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T.T.H.A, huyện H.N, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới sống bên gia đình anh được 06 tháng thì ra sống riêng, thời gian đầu sống hạnh phúc, năm 2019 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân cãi nhau, chị Q về nhà cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Nay anh không thống nhất ly hôn theo yêu cầu của chị Q.

Về con chung: Anh T trình bày trong thời gian sống chung với chị Q có con chung Trần V.L, sinh ngày 06/02/2010, anh muốn vợ chồng chăm sóc nuôi dưỡng con.

Về tài sản chung: Anh T trình bày trong thời gian chung sống với chị Q không có tài sản, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Anh T trình bày trong thời gian chung sống với chị Q không có nợ ai hoặc ai nợ lại, không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát: từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều chấp hành đúng quy định của pháp luật, về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Q, về con chung: Chị Q được nuôi dưỡng Trần V.L, sinh ngày 06/02/2010, anh T không cấp dưỡng nuôi con do chị Q không yêu cầu, về tài sản chung và nợ chung: không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ việc xét xử vắng mặt phù hợp với Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Chị Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T. Đây là ly hôn, tranh chấp về nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Q và anh T phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội, đăng ký kết hôn vào ngày 18/3/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T.T.H.A, huyện H.N, tỉnh Đồng Tháp, theo chị Q trình bày từ khi sống riêng thường cãi nhau, nguyên nhân anh T thường xuyên uống rượu không lo cho gia đình và xúc phạm chị nhưng vẫn sống chung. Đến năm 2019 mâu thuẫn nhiều chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống, từ khi không sống chung không gặp nhau hàn gắn. Biên bản hòa giải anh T không thống nhất ly hôn với chị Q. Tuy nhiên, khi nhận văn bản tố tụng không đến phiên tòa là anh chưa thể hiện còn thương chị Q, cho thấy anh Tâm không quan tâm gia đình, đã là vợ chồng phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Vì vậy, hôn nhân giữa chị Q và anh T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận cho chị Q ly hôn với anh T phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trần V.L, sinh ngày 06/02/2010, chị Q yêu cầu được nuôi dưỡng, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét, từ khi chị Q và anh T không sống chung L do chị Q nuôi dưỡng, L trình bày nguyện vọng sống với chị Q. Vì vậy, giao L cho chị Q nuôi dưỡng là phù hợp, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Q tự nguyện không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về tài sản chung: trong quá trình giải quyết chị Q trình bày sống chung với anh T không có tài sản, tại phiên tòa chị Q trình bày có tài sản nhưng không có giá trị để tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: trong quá trình giải quyết chị Q và anh T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

Phát biểu của Kiểm sát viên giải quyết vụ án. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về án phí: áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Q phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0001235 ngày 20/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.N.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn T.N.Q.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn T.N.Q được ly hôn với anh Trần V.C.T.

2. Về con chung: Chị Nguyễn T.N.Q được nuôi dưỡng Trần V.L, sinh ngày 06/02/2010, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Q tự nguyện không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về tài sản chung: tự thỏa thuận, chưa yêu cầu giải quyết.

4. Về nợ chung: không có.

5. Về án phí: Chị Nguyễn T.N.Q phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0001235ngày 20/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.N.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ