- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Không công nhận bà Ngô Thị B và ông Dương Quang M là vợ chồng"
- Tòa quyết gì? 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2020/HNGĐ-ST Ngày 04 - 6 - 2020 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Ngân.
Ông Lê Đức Lập.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hải là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Nhiên - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành,
tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 157/2020/TLST-HNGĐ
ngày 28 tháng 4 năm 2020 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
28/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị B, sinh năm: 1967; cư trú tại số 782, tổ 23, ấp
V, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Dương Quang M, sinh năm: 1965; cư trú tại 782, tổ 23, ấp
V, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/3/2020 và lời khai có trong hồ sơ vụ án,
nguyên đơn bà Ngô Thị B trình bày:
Bà và ông Dương Quang M chung sống năm 1988, có đăng ký kết hôn
năm 1988 tại Uỷ ban nhân dân xã Hảo Đước, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, nhưng giấy chứng nhận kết hôn đã bị cháy, Uỷ ban nhân dân xã An Cơ (tách ra xã Hảo Đước) xác nhận hiện UBND xã chỉ còn sổ bộ lưu kết hôn từ năm 1991 đến nay và kiểm tra cũng không thấy tên bà và ông M có đăng ký kết hôn. Bà chấp nhận việc bà và ông M không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vào thời gian đầu hạnh phúc, đến tháng 1 năm 2020 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Vợ chồng ly thân từ tháng 1 năm 2020 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Dương Quang M.
Về con chung: Có 02 con chung là Dương Thị Mộng K, sinh ngày
16/10/1989 và Dương Trọng C1, sinh ngày 14/7/1990. Con chung đã trưởng thành, bà không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn.
Nợ chung: Không có.
Theo lời khai ngày 06/5/2020 ông Dương Quang M trình bày:
Ông và bà Ngô Thị B chung sống năm 1988, có đăng ký kết hôn năm
1988 tại Uỷ ban nhân dân xã Hảo Đước, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, nhưng giấy chứng nhận kết hôn đã bị cháy, Uỷ ban nhân dân xã An Cơ (tách ra xã Hảo Đước) xác nhận hiện UBND xã chỉ còn sổ bộ lưu kết hôn từ năm 1991 đến nay và kiểm tra cũng không thấy tên ông và bà B có đăng ký kết hôn. Ông chấp nhận việc ông và bà B không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vào thời gian đầu hạnh phúc, đến tháng 1 năm 2020 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Vợ chồng ly thân từ tháng 1 năm 2020 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà B yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà B được ly hôn với ông nên ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung là Dương Thị Mộng K, sinh ngày
16/10/1989 và Dương Trọng C1, sinh ngày 14/7/1990. Con chung đã trưởng thành, ông không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn.
Nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh
Tây Ninh trình bày:
Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng dân
sự, không có vi phạm. Đương sự trong vụ án chấp hành đúng quy định của pháp
Về nội dung: Không công nhận bà Ngô Thị B và ông Dương Quang M là
vợ chồng; về con chung: Có 02 con chung là Dương Thị Mộng K, sinh ngày
16/10/1989 và Dương Trọng C1, sinh ngày 14/7/1990, con chung đã trưởng
thành, bà B và ông M không yêu cầu Toà án giải quyết nên ghi nhận; ghi nhận
bà B và ông M không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn; nợ
chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Ngô Thị B khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Dương Quang M, cư trú tại
huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình và
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây
Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ
Về thủ tục tố tụng: Bà B là nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn
đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; ông M là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn
đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, theo khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ
luật Tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xét
xử vắng mặt đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà B và ông M chung sống có đăng ký kết hôn
năm 1988 tại Uỷ ban nhân dân xã Hảo Đước, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh,
nhưng giấy chứng nhận kết hôn đã bị cháy, Uỷ ban nhân dân xã An Cơ (tách ra
xã Hảo Đước) xác nhận hiện UBND xã chỉ còn sổ bộ lưu kết hôn từ năm 1991
đến nay và kiểm tra cũng không thấy tên bà B và ông M có đăng ký kết hôn. Bà
B và ông M không cung cấp chứng cứ có đăng ký kết hôn và cũng chấp nhận
chung sống không có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà B và ông M không hợp pháp. Nay bà B có yêu cầu ly hôn nên căn cứ Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, không công nhận bà Ngô Thị B và ông Dương Quang M là vợ chồng.
Về con chung: Bà B và ông M có 02 con chung là Dương Thị Mộng
K, sinh ngày 16/10/1989 và Dương Trọng C1, sinh ngày 14/7/1990. Con chung đã trưởng thành, bà B và ông M không yêu cầu Toà án giải quyết nên ghi nhận.
Về tài sản: Bà B và ông M không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài
sản khi ly hôn nên ghi nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a
khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: Bà Ngô Thị B là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; ông Dương Quang M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án;
1. Tuyên bố không công nhận bà Ngô Thị B và ông Dương Quang M là
vợ chồng.
2. Về con chung:
Bà Ngô Thị B và ông Dương Quang M có 02 con chung là Dương Thị
Mộng K, sinh ngày 16/10/1989 và Dương Trọng C1, sinh ngày 14/7/1990. Con chung đã trưởng thành, bà B và ông M không yêu cầu Toà án giải quyết.
3. Về tài sản:
Bà Ngô Thị B và ông Dương Quang M không yêu cầu Tòa án giải quyết
chia tài sản khi ly hôn.
4. Về án phí:
Bà Ngô Thị B phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng theo biên lai thu số 0006865 ngày 28/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Bà Ngô Thị B đã nộp đủ tiền án phí dân
sự sơ thẩm.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thị Thanh Hằng |