vanban.org

Bản án 22/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Cái Răng, TP. Cần Thơ Tuyên án 25/08/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP T.

Buộc bị đơn ông Hà Tấn T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP T tạm tính đến ngày 25/8/2020 số tiền là 242.872.501 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 189.765.976 đồng, lãi quá hạn: 53.106.525 đồng). Kể từ ngày nguyên đơn Ngân hàng TMCP T có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn ông Hà Tấn T chậm thi hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng mở thẻ tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 22/2020/DS-ST
Ngaøy: 25/8/2020
V/v: “Tranh chấp hợp đồng mở thẻ tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiến

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Ông Võ Thành Hưng

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lai Ngọc Trí – Thư ký Tòa án nhân dân quận C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bảo Trân – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2020/TLST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng mở thẻ tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2020/QĐXX - ST ngày 29 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T

Đại diện theo pháp luật bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền ông Dương Tấn Đ – Phó giám đốc Ngân hàng T – Chi nhánh Cần Thơ.

Địa chỉ: phường A, quận K, thành phố Cần Thơ.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Lê Trường S –

Chức vụ: chuyên viên. Văn bản ủy quyền ngày 07/01/2020. Có mặt

Bị đơn: Ông Hà Tấn T, sinh năm 1993 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ hiện nay: khu vực A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.

Ông Hà Tấn T hiện đang bị giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Cần Thơ trong vụ án hình sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 01 năm 2020 và quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Lê Trường S trình bày:

Ngày 18/9/2017 bị đơn ông Hà Tấn T có ký với nguyên đơn Ngân hàng TMCP T (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập thực tế của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp 02 thẻ tín dụng JCB Car Gold-NOT ISSUE 356481-2167 và thẻ tín dụng VS payWave Cre Platinum imperial 436438-1107 với hạn mức sử dụng là 200.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi cấp thẻ tín dụng, bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 189.765.976 đồng. Bị đơn đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 1.334.621.465 đồng. Qua nhiều lần nhắc nhở việc trả nợ nhưng bị đơn vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng), ngày 19/12/2019 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Điều khoản và Điều kiện phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng). Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu khởi kiện: Buộc bị đơn Hà Tấn T phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/8/2020 là 242.872.501 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 189.765.976 đồng, lãi quá hạn: 53.106.525 đồng). Ngoài ra, bị đơn Hà Tấn T còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 26/8/2020 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại hợp đồng.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn Hà Tấn T trình bày: Ông T thừa nhận có ký 02 thẻ tín dụng với Ngân hàng với hạn mức là 200.000.000 đồng, mục đích là vay tiêu dùng. Dư nợ hiện tại là 189.765.976 đồng. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn cũng đồng ý trả nợ.

Vụ án hòa giải không được. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa,

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/8/2020 là 242.872.501 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 189.765.976 đồng, lãi quá hạn: 53.106.525 đồng). Ngoài ra, bị đơn Hà Tấn T còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 26/8/2020 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại hợp đồng.

Bị đơn ông Hà Tấn T có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Tòa thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng tư cách đương sư, thu thập chứng cứ, hòa giải đúng luật định; gửi các văn bản tố tụng và hồ sơ cho Viện kiểm sát, đưa ra xét xử đúng hạn. Tại tòa Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo luật định. Bị đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt cho nên áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến nhận xét và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì quan hệ được xác định đây là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng mở thẻ tín dụng” và bị đơn có địa chỉ cư trú tại quận C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Hà Tấn T có đơn xin giải quyết vắng mặt. (BL 38). Do đó, Tòa án áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt bị đơn ông Hà Tấn T.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 18/9/2017 bị đơn ông Hà Tấn T có ký với nguyên đơn Ngân hàng TMCP T (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập thực tế của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp 02 thẻ tín dụng JCB Car Gold-NOT ISSUE 356481-2167 và thẻ tín dụng VS payWave Cre Platinum imperial 436438-1107 với hạn mức sử dụng là 200.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi cấp thẻ tín dụng, bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 189.765.976 đồng. Bị đơn đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 1.334.621.465 đồng. Qua nhiều lần nhắc nhở việc trả nợ nhưng bị đơn vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng), ngày 19/12/2019 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Điều khoản và Điều kiện phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng). Căn cứ các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn đã giao nộp trong quá trình giải quyết vụ án thấy rằng giữa nguyên đơn và bị đơn có thực hiện giao dịch mở thẻ tín dụng với hình thức vay tín chấp. bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 189.765.976 đồng. Bị đơn đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 1.334.621.465 đồng. Nguyên đơn yêu cầu khởi kiện: Buộc bị đơn Hà Tấn T phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/8/2020 là 242.872.501 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 189.765.976 đồng, lãi quá hạn: 53.106.525 đồng). Ngoài ra, bị đơn Hà Tấn T còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 26/8/2020 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại hợp đồng. Tại bản tự khai ngày 10/7/2020 bị đơn T cũng thừa nhận có ký 02 thẻ tín dụng với hạn mức 200.000.000 đồng, múc đích vay là tiêu dùng cá nhân. Bị đơn T cũng đồng ý trả số nợ trên. Do đó, nhận thấy yêu cầu bị đơn trả nợ của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Hà Tấn T trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP T tạm tính đến ngày 25/8/2020 là 242.872.501 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 189.765.976 đồng, lãi quá hạn: 53.106.525 đồng). Ngoài ra, bị đơn Hà Tấn T còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 26/8/2020 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại hợp đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

+ Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng như đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Về nội dung giải quyết vụ án: Với những phân tích nêu trên về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung này là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH K14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP T.

Buộc bị đơn ông Hà Tấn T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP T tạm tính đến ngày 25/8/2020 số tiền là 242.872.501 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 189.765.976 đồng, lãi quá hạn: 53.106.525 đồng).

Kể từ ngày nguyên đơn Ngân hàng TMCP T có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn ông Hà Tấn T chậm thi hành thì hàng tháng bị đơn ông T còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 26/8/2020 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại Hợp đồng.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Hà Tấn T phải nộp 12.143.625 đồng. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP T được nhận lại số tiền 4.744.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 005871 ngày 10/02/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự quận C.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án để yêu cầu cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ