- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Q - Đặng Văn T, Kim Thị Ánh N"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q về việc yêu cầu bị đơn phải trả số tiền phạt chậm trả lãi.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2020/DS-ST Ngày: 22-7-2020 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhập
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Ông Nguyễn Thành Thật
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: Ông Cao Thế Lĩnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 39/2020/TLST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2020/QĐXXST-DS, ngày 16 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q;
Trụ sở chính: Số 21 C, phường C, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đ, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Pháp nhân đại diện theo ủy quyền: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Quản lý nợ và Khai thác tài sản – Ngân hàng TMCP Q (theo Hợp đồng ủy quyền số 02/UQ.MB-MBAMC);
Địa chỉ: Tầng G, tòa nhà L, đường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Quốc N, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị L, chức vụ: Phó giám đốc Trung tâm xử lý nợ Công ty MB AMC (theo Văn bản ủy quyền số 442/UQ-MBAMC);
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đinh Thị L: Ông Phạm Văn T, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ - Công ty MBAMC chi nhánh Tây Nam Bộ (theo Văn bản ủy quyền số 240/UQ-MBAMC) (có mặt).
- Bị đơn: Anh Đặng Văn T – sinh năm 1986; Chị Kim Thị Ánh N – sinh năm 1990 (đều vắng mặt);
Cùng địa chỉ: ấp 7, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Đặng Văn T1 – sinh năm 1955; Bà Lê Thị T – sinh năm 1957 (đều có đơn xin vắng mặt);
Cùng địa chỉ: ấp 7, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/02/2020 và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (Ngân hàng TMCP Q) – Người đại diện theo ủy quyền ông Phạm Văn T trình bày:
Vào ngày 19/7/2017, Ngân hàng TMCP Q có cho anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N vay số tiền 700.000.000đ theo Hợp đồng cho vay số 674817.17.451.3344969.TD, ngày 19/7/2017; mục đích vay là tiêu dùng mua sắm thiết bị trong gia đình; thời hạn vay là 84 tháng; ngày giải ngân 20/7/2017; ngày đến hạn 20/7/2024; lãi suất trong hạn 11%/năm (lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng một lần và được tính bằng mức lãi suất sản phẩm tiết kiệm trung dài hạn linh hoạt VNĐ kỳ hạn 24 tháng của Ngân hàng TMCP Q cộng biên độ lãi suất 4,6%/năm); lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay; hình thức thanh toán gốc, lãi: nợ gốc được thanh toán 14 kỳ (mỗi kỳ là 06 tháng/kỳ) vào ngày 15 hàng tháng, ngày trả nợ gốc đầu tiên là ngày 15/01/2018, kỳ tính lãi đầu tiên là bắt đầu vào ngày giải ngân của khoản vay và kết thúc vào ngày 14/01/2018, các kỳ tính lãi tiếp theo kỳ tính lãi đầu tiên theo quy định tại hợp đồng cho vay.
Ông Đặng Văn T1, bà Lê Thị T (cha mẹ ruột của anh Đặng Văn T) ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 674818.17.451.3344969.BĐ, ngày 19/7/2017 với ngân hàng TMCP Q để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N tại hợp đồng tín dụng số 674817.17.451.3344969.TD, ngày 19/7/2017, tài sản thế chấp gồm có: Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất có diện tích 19.900m2 đất ở và đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 04, thửa số 30955.04.866, đất tọa lạc tại ấp 7, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 755153 được UBND huyện G cấp ngày 29/5/2008 do ông Đặng Văn T1 đứng tên; Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất có diện tích 8.180m2 đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 04, thửa số 30955.04.655, đất tọa lạc tại ấp 7, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 755156 được UBND huyện G cấp ngày 29/5/2008 do ông Đặng Văn T1 đứng tên; Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất có diện tích 2.210m2 đất trồng lúa, tờ bản đồ số 04, thửa số 30955.04.656, đất tọa lạc tại ấp 7, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 755157 được UBND huyện G cấp ngày 29/5/2008 do ông Đặng Văn T1 đứng tên.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N có trả gốc và lãi cho Ngân hàng được số tiền 177.467.556đ (trong đó: nợ gốc 100.000.110đ và nợ lãi 77.467.446đ) nhưng từ ngày 08/01/2020 đến nay anh T, chị N không đóng lãi cũng không thanh toán nợ gốc thêm cho ngân hàng. Ngân hàng TMCP Q đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở cũng như tạo điều kiện cho anh T, chị N thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng anh chị vẫn không có thiện chí thực hiện. Tính đến ngày 22/7/2020, anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N còn nợ Ngân hàng TMCP Q số tiền 765.709.876 (bảy trăm sáu mươi lăm triệu, bảy trăm lẻ chín nghìn, tám trăm bảy mươi sáu đồng), trong đó: nợ gốc 599.999.890đ, lãi trong hạn 789.041đ, lãi quá hạn 154.652.934đ và lãi phạt 10.268.011đ.
Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP Q xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu trả số tiền 10.268.011đ là tiền phạt chậm trả lãi. Đồng thời, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N phải trả cho ngân hàng số nợ tính đến ngày 22/7/2020 là 755.441.865đ (bảy trăm năm mươi lăm triệu, bốn trăm bốn mươi mốt nghìn, tám trăm sáu mươi lăm đồng), trong đó: nợ gốc 599.999.890đ, lãi trong hạn 789.041đ, lãi quá hạn 154.652.934đ và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp, anh T, chị N không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Đối với bị đơn anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh T, chị N không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của anh chị.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn T1 và bà Lê Thị T trình bày:
Ông, bà là cha mẹ ruột của anh Đặng Văn T. Ông T1, bà T thừa nhận vào ngày 19/7/2017, ông T1 có ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 674818.17.451.3344969.BĐ, ngày 19/7/2017 với Ngân hàng TMCP Q để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của anh Đặng Văn T và chị Kim Thị Ánh N theo hợp đồng cho vay số 674817.17.451.3344969.TD, ngày 19/7/2017, tài sản thế chấp gồm có: Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất có diện tích 19.900m2 đất ở và đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 04, thửa số 30955.04.866, đất tọa lạc tại ấp 7, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 755153 được UBND huyện G cấp ngày 29/5/2008 do ông Đặng Văn T1 đứng tên; Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất có diện tích 8.180m2 đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 04, thửa số 30955.04.655, đất tọa lạc tại ấp 7, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 755156 được UBND huyện G cấp ngày 29/5/2008 do ông Đặng Văn T1 đứng tên; Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất có diện tích 2.210m2 đất trồng lúa, tờ bản đồ số 04, thửa số 30955.04.656, đất tọa lạc tại ấp 7, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 755157 được UBND huyện G cấp ngày 29/5/2008 do ông Đặng Văn T1 đứng tên.
Quá trình thực hiện hợp đồng do anh T, chị N làm ăn thất bại nên không trả nợ đúng hạn cho ngân hàng được. Nay, Ngân hàng TMCP Q khởi kiện anh T, chị N thì ông bà không có khả năng trả nợ thay cho anh T, chị N nên ông bà tự nguyện giao toàn bộ tài sản thế chấp nêu trên cho ngân hàng kê biên, phát mãi để thu hồi toàn bộ số nợ. Ngoài ra, ông T1, bà T còn trình bày ông bà vẫn đang trực tiếp canh tác trên toàn bộ tài sản thế chấp nêu trên, ông bà không có thực hiện các giao dịch về đất với bên thứ 3.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng quy định và thuộc thẩm quyền giải quyết. Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các bước tiến hành tố tụng đúng theo quy định, tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Riêng đối với bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 26, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 465, Điều 466, 468 và 470 Bộ luật dân sự 2015: Ghi nhận về việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu bị đơn phải trả số tiền phạt chậm trả lãi. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q buộc anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N phải trả cho ngân hàng số nợ tính đến ngày 22/7/2020 là 755.441.865đ (bảy trăm năm mươi lăm triệu, bốn trăm bốn mươi mốt nghìn, tám trăm sáu mươi lăm đồng), trong đó: nợ gốc 599.999.890đ, lãi trong hạn 789.041đ, lãi quá hạn 154.652.934đ và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật: Cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại nên Ngân hàng TMCP Q khởi kiện anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được Tòa án thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 3 Điều 26 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn không có yêu cầu phản tố.
Anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N với tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Ông Đặng Văn T1, bà Lê Thị T với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án vẫn được xét xử theo quy định.
Về nội dung: Vào ngày 19/7/2017, giữa Ngân hàng TMCP Q với anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N có ký kết Hợp đồng cho vay số 674817.17.451.3344969.TD, ngày 19/7/2017, theo đó: Ngân hàng TMCP Q cho anh T, chị N vay số tiền 700.000.000đ; mục đích vay là tiêu dùng, mua sắm thiết bị trong gia đình; thời hạn vay là 84 tháng; ngày giải ngân 20/7/2017; ngày đến hạn 20/7/2024; lãi suất trong hạn 11%/năm (lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng một lần và được tính bằng mức lãi suất sản phẩm tiết kiệm trung dài hạn linh hoạt VNĐ kỳ hạn 24 tháng của Ngân hàng TMCP Q cộng biên độ lãi suất 4,6%/năm); lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay; hình thức thanh toán gốc, lãi: nợ gốc được thanh toán 14 kỳ (mỗi kỳ là 06 tháng/kỳ) vào ngày 15 hàng tháng, ngày trả nợ gốc đầu tiên là ngày 15/01/2018, kỳ tính lãi đầu tiên là bắt đầu vào ngày giải ngân của khoản vay và kết thúc vào ngày 14/01/2018, các kỳ tính lãi tiếp theo kỳ tính lãi đầu tiên theo quy định tại hợp đồng cho vay.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh T, chị N đã nhận đủ tiền vay, từ ngày vay đến ngày 08/01/2020 anh chị có trả cho ngân hàng được số tiền 177.467.556đ (trong đó: nợ gốc 100.000.110đ và nợ lãi 77.467.446đ) và từ đó đến nay không đóng lãi cũng không trả nợ gốc cho Ngân hàng theo thỏa thuận đã nêu trong hợp đồng. Ngân hàng có đến nhắc nhở nhiều lần nhưng anh chị chỉ hứa hẹn mà không trả nợ. Việc anh T, chị N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng là đã vi phạm Điều 6, Điều 8 và Điều 13 của Hợp đồng cho vay số 674817.17.451.3344969.TD, ngày 19/7/2017 mà các bên đã ký kết nên Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu anh T, chị N thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Xét, Hợp đồng cho vay số 674817.17.451.3344969.TD, ngày 19/7/2017 giữa các bên được ký kết trên cơ sở tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật nên phát sinh hiệu lực thi hành.
Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP Q xin rút 01 phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu bị đơn phải trả số tiền lãi phạt chậm trả lãi. Việc tự nguyện rút 01 phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là phù hợp nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, chấp nhận đình chỉ một phần yêu cầu này của nguyên đơn.
Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q buộc anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N phải trả số nợ tính đến ngày 22/7/2020 là 755.441.865đ (bảy trăm năm mươi lăm triệu, bốn trăm bốn mươi mốt nghìn, tám trăm sáu mươi lăm đồng), trong đó: nợ gốc 599.999.890đ, lãi trong hạn 789.041đ, lãi quá hạn 154.652.934đ và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng từ ngày 23/7/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có 02 lần tống đạt Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành mở phiên họp vào ngày 18/5/2020 và ngày 28/5/2020 để tạo điều kiện cho các bên đương sự hòa giải, thỏa thuận với nhau nhưng anh T, chị N đều vắng mặt nên Tòa án không T1 hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được. Hơn nữa, anh T, chị N cũng không gửi bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến và yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q cho Tòa án. Tính đến hết ngày 22/7/2020, anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N còn nợ ngân hàng tổng số tiền 755.441.865đ (bảy trăm năm mươi lăm triệu, bốn trăm bốn mươi mốt nghìn, tám trăm sáu mươi lăm đồng), trong đó: nợ gốc 599.999.890đ, lãi trong hạn 789.041đ, lãi quá hạn 154.652.934đ. Như vậy, anh T, chị N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 466 BLDS 2015 nên cần buộc anh T, chị N có nghĩa vụ thanh toán số nợ gốc cho Ngân hàng TMCP Q là phù hợp. Đối với yêu cầu trả số tiền nợ lãi tạm tính đến hết 22/7/2020 của Ngân hàng TMCP Q là 155.441.975đ (trong đó: lãi trong hạn 789.041đ, lãi quá hạn 154.652.934đ) và lãi phát sinh từ kể từ ngày 23/7/2020 cho tới khi thanh toán xong khoản nợ. Xét thấy, cách tính tiền lãi của Ngân hàng TMCP Q phù hợp với thỏa thuận của hai bên trong Hợp đồng cho vay số 674817.17.451.3344969.TD, ngày 19/7/2017 cũng là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 cho nên yêu cầu trả lãi này của Ngân hàng TMCP Q đối với anh T, chị N là có cơ sở chấp nhận.
Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 674818.17.451.3344969.BĐ, ngày 19/7/2017 giữa Ngân hàng TMCP Q với ông Đặng Văn T1 thấy rằng: Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất có diện tích 19.900m2 đất ở và đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 04, thửa số 30955.04.866, đất tọa lạc tại ấp 7, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 755153 được UBND huyện G cấp ngày 29/5/2008 do ông Đặng Văn T1 đứng tên; Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất có diện tích 8.180m2 đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 04, thửa số 30955.04.655, đất tọa lạc tại ấp 7, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 755156 được UBND huyện G cấp ngày 29/5/2008 do ông Đặng Văn T1 đứng tên và Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất có diện tích 2.210m2 đất trồng lúa, tờ bản đồ số 04, thửa số 30955.04.656, đất tọa lạc tại ấp 7, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 755157 được UBND huyện G cấp ngày 29/5/2008 do ông Đặng Văn T1 đứng tên được công chứng tại Văn phòng công chứng Giồng Riềng vào ngày 19/7/2017 theo số công chứng 2461, quyển số 01 TP/CC.SCC/HĐGD để bảo đảm cho Hợp đồng cho vay số 674817.17.451.3344969.TD, ngày 19/7/2017 là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp theo quy định tại các Điều 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 167 Luật Đất đai 2013 nên cần duy trì để bảo đảm thi hành án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn T1, bà Lê Thị T cũng tự nguyện giao toàn bộ tài sản thế chấp nêu trên cho ngân hàng kê biên, phát mãi để thu hồi toàn bộ số nợ vay của anh T, chị N.
Như vậy, nếu bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mãi tài sản để thu hồi nợ theo quy định tại các Điều 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 Bộ luật Dân sự 2015.
Về án phí: Anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N phải chịu án phí dân sự có giá ngạch trong tổng số tiền phải trả là: 34.217.674đ [20.000.000đ + (355.441.865đ x 4%)] do anh chị có lỗi trong vụ kiện này.
Ngân hàng TMCP Q được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463, 466, 470 và Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q về việc yêu cầu bị đơn phải trả số tiền phạt chậm trả lãi.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q.
Buộc anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 755.441.865đ (Bảy trăm năm mươi lăm triệu, bốn trăm bốn mươi mốt nghìn, tám trăm sáu mươi lăm đồng), trong đó: nợ gốc 599.999.890đ, lãi trong hạn 789.041đ và lãi quá hạn 154.652.934đ.
Kể từ ngày Ngân hàng TMCP Q có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N chưa thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu lãi từ ngày 23/7/2020 theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trên số nợ gốc tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Sau khi anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Q có nghĩa vụ hoàn trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 674818.17.451.3344969.BĐ, ngày 19/7/2017 cho ông Đặng Văn T1, bà Lê Thị T.
Nếu anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ số nợ vay, tài sản thế chấp gồm có: Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất có diện tích 19.900m2 đất ở và đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 04, thửa số 30955.04.866, đất tọa lạc tại ấp 7, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 755153 được UBND huyện G cấp ngày 29/5/2008 do ông Đặng Văn T1 đứng tên; Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất có diện tích 8.180m2 đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 04, thửa số 30955.04.655, đất tọa lạc tại ấp 7, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 755156 được UBND huyện G cấp ngày 29/5/2008 do ông Đặng Văn T1 đứng tên và Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất có diện tích 2.210m2 đất trồng lúa, tờ bản đồ số 04, thửa số 30955.04.656, đất tọa lạc tại ấp 7, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 755157 được UBND huyện G cấp ngày 29/5/2008 do ông Đặng Văn T1 đứng tên.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Đặng Văn T, chị Kim Thị Ánh N phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 34.217.674đ (ba mươi bốn triệu, hai trăm mười bảy nghìn, sáu trăm bảy mươi bốn đồng).
Ngân hàng TMCP Q không phải nộp án phí và được nhận lại số tiền 18.173.000đ (mười tám triệu, một trăm bảy mươi ba nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008847, ngày 23/3/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Kiên Giang.
4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 22/7/2020.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 9 Luật thi hành án dân sự và các Điều 7, 7a, 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện G; - Chi cục THADS huyện G; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Kim Nhập |