vanban.org

Bản án 22/2019/HSST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tạm giam bị cáo: Trương Hoàng T, sinh ngày 03/02/1995, tại Kiên Giang; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: 15, ấp Sóc Cung, xã Phi Thông, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Phòng 1011, Lô B, Ký t c xá Đại học Văn Hóa, địa chỉ: 288, đường Đỗ Xuân Hợp, phường Phước ong , Quận …

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt: 05 (năm) năm t về tội “Cướp tài sản” Thời hạn t tính t ngày 02/10/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Hoàng T phạm tội cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Trương Hoàng T, sinh ngày 03/02/1995, tại Kiên Giang; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: 15, ấp Sóc Cung, xã Phi Thông, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Phòng 1011, Lô B, Ký t c xá Đại học Văn Hóa, địa chỉ: 288, đường Đỗ Xuân Hợp, phường Phước ong , Quận …
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 22/2019/HS-ST
Ngày : 28/3/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Muôn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1 Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng

2. Bà Đinh Thị Tuyết Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trọng Tường – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Khải – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2019. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2019, đối với bị cáo:

Tr ng Hoàng T, sinh ngày 03/02/1995, tại Kiên Giang; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: xã P, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Ký t c xá Đại học H, địa chỉ: đường X, phường , Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Hoàng A, sinh năm: 1971 và bà: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1971; Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có 02 anh em; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam t ngày 02/10/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Công ty TNHH B-S Mart (Vắng mặt);

Địa chỉ: 63, đường Trần Quang Diệu, Phường 13, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền trả nợ nên Trương Hoàng T chuẩn bị ba lô, khẩu trang và 01 (một) con dao Thái an và bắt xe buýt đến Cửa hàng B-S Mart tại địa chỉ số 66, Đường 15, Khu phố 5, phường n Ph , Quận 2 (Thuộc Công ty TNHH B-S Mart) với mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản. Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 01/10/2018, T đến Cửa hàng B-S Mart. Tại Cửa hàng l c này có 02 nhân viên tên là Trần Thị Thái M và Nguyễn Thị T. Khi vào Cửa hàng, T đeo khẩu trang mua 01 chai nước suối rồi ngồi ngay góc phải phía gần cửa ra vào của Cửa hàng để quan sát, chờ đến giờ giao ca. Đến khoảng 22 giờ 05 ph t, T nhìn thấy chị M đi vào kho của Cửa hàng B-S Mart để chốt lại số tiền bán hàng trong ca làm việc (t 14 giờ 00 đến 22 giờ 00) nên đ ng dậy đi theo chị M. c này, tay phải T cầm dao, tay trái cầm ba lô che giấu dao. Khi đẩy được cửa vào trong kho, T nhanh chóng ném ba lô lên trên th ng giấy nằm phía trước bên phải của T, gần phía chị M. Đồng thời, T d ng tay trái k p c chị M, tay phải cầm dao phía trước. Trong kho l c này còn có chị T. Thấy vậy, T nói “Tao chỉ lấy tiền, không làm gì mày đâu, mày bỏ tiền vào ba lô”. Sau đó, T c i xuống d ng tay phải cầm ba lô lên với mục đích để cho chị M bỏ tiền vào. Chị M dùng tay phải nắm c tay phải của T, tay trái cầm 02 cọc tiền ném về phía trước. Ngay lập t c, T dùng tay trái đẩy chị M về phía trước, d ng tay phải cầm dao chém và đâm về phía chị M khiến chị M phải l i lại phía sau để né tránh. Ngay lập t c, T c i xuống lấy hai cọc tiền bỏ vào ba lô. C ng l c này, chị T chạy được ra ngoài tri hô “cướp”. Chị M thấy T c i xuống nhặt tiền liền lao vào tấn công T bằng tay với mục đích giữ T lại nhưng T v ng dậy cầm ba lô chạy ra ngoài. c này các anh ân, Hải, Th c, Cảnh (là những người đang mua hàng ở Cửa hàng B-S Mart) nghe tiếng tri hô cướp và thấy T ôm ba lô bỏ chạy nên c ng nhau ngăn cản T. Anh Th c ôm T lại nhưng bị tuột tay, tiếp theo đến lượt anh ân d ng tay phải túm áo kéo T lại thì T d ng tay phải cầm dao gạt về phía sau đẩy tay anh ân ra và gây thương tích trên tay phải của anh ân. T tiếp tục chạy về phía cửa ra vào Cửa hàng thì bị anh Hải d ng ghế để khống chế nhưng bị T d ng dao chống trả lại làm cho anh Hải bị thương ở ngón cái và bỏ chạy ra ngoài. Mọi người (Th c, ân, Hải, Cảnh) chia nhau ra đu i theo T.

Sau khi ra khỏi Cửa hàng, T chạy vòng vào Đường số 14 hướng ra đường Song Hành. Các anh Th c, ân, Hải, Cảnh đu i theo T nhưng chỉ mình anh Th c phát hiện ra T đang di chuyển trên Đường số 17 (cắt ngang Đường 14). Do T cầm dao nên anh Th c không dám tiếp cận mà chạy đi báo cho các đồng chí dân phòng gần đó và kể lại đặc điểm của đối tượng v a cướp. Khi chạy trên đường Song Hành gần Cầu Trắng thì T quăng con dao Thái an xuống sông và tiếp tục di chuyển đến Cầu Trắng. Khi đến Cầu Trắng, T đặt xe Grap qua điện thoại và đ ng đợi xe khoảng 03 ph t thì có hai đồng chí dân phòng thấy T khả nghi nên đến hỏi T. T thấy vậy, liền bỏ chạy và bị 02 đồng chí dân phòng đu i theo đến trước số nhà 47 Đường 7, Khu phố 5, phường n Ph , Quận 2 bắt giữ T c ng vật ch ng đưa Công an phường n Ph xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2, Trương Hoàng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật ch ng thu giữ:

- Số tiền 990.000 (Chín trăm chín mươi nghìn) đồng;

- 01 (một) ba lô màu xanh hiệu Nivea Men;

- 01 (một) khẩu trang y tế màu xám đã qua sử dụng;

- 01 (một) đôi dép nhựa hiệu Adidas đã qua sử dụng.

Tại bản Cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 24 tháng 01 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 đã truy tố bị cáo Trương Hoàng T về tội “Cướp tài sản”, theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích nhân thân, tính chất, m c độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Hoàng T phạm tội “Cướp tài sản” và áp dụng đểm d khoản 2 Điều 168; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trương Hoàng T t 06 (sáu) năm t đến 07 (bảy) năm tù. Thời hạn t tính t ngày 02/10/2018.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, Công ty TNHH B-S Mart đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt vấn đề giải quyết.

Về xử lý vật ch ng của vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị Tòa án tịch thu tiêu hủy 01 (một) ba lô màu xanh hiệu Nivea Men, 01 (một) khẩu trang y tế màu xám đã qua sử dụng và 01 (một) đôi dép nhựa hiệu Adidas đã qua sử dụng.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2, chỉ xin giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Trước đây có vay số tiền 10.000.000 đồng của xã hội đen để đóng tiền học. Do chưa có tiền để trả thì bị đe dọa nên bị cáo làm liều bằng cách chuẩn bị 01 con dao Thái lan, ba lô và khẩu trang y tế rồi đón xe buýt Cửa hàng B-S Mart (Thuộc Công ty TNHH B-S Mart), địa chỉ: số 66, Đường số 15, phường n Ph , Quận 2 nhằm, nơi mà trước đây bị cáo đã t ng làm để khống chế lấy tiền. Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 01/10/2018, bị cáo đeo khẩu trang vào Cửa hàng mua 01 chai nước suối rồi ngồi cạnh góc phải phía gần cửa ra vào để quan sát, chờ đến lúc nhân viên giao ca. Khoảng 22 giờ 05 phút, bị cáo thấy chị M mang tiền đi vào kho nên đ ng dậy đi theo, tay phải cầm dao, tay trái cầm ba lô che giấu con dao. Khi bị cáo đẩy được cửa vào trong kho, bị cáo ném ba lô lên phía trước, gần chị M. Bị cáo d ng tay trái k p c chị M, tay phải cầm dao, lúc này trong kho còn có chị T. Bị cáo nói với chị M: “Tao chỉ lấy tiền, không làm gì mày đâu, mày bỏ tiền vào ba lô”. Chị M d ng tay phải nắm c tay phải của bị cáo, tay trái cầm 02 cọc tiền ném về phía trước. Bị cáo dùng tay đẩy chị M về phía trước, tay phải cầm dao chém và đâm về phía chị M khiến chị M phải l i lại phía sau để né tránh. Bị cáo c i xuống lấy hai cọc tiền bỏ vào ba lô. Lúc này, chị T chạy được ra ngoài tri hô “cướp”. Chị M thấy bị cáo lấy tiền, liền lao vào tấn công nhưng bị T v ng dậy cầm ba lô chạy ra ngoài.

c này, các anh ân, Hải, Th c và Cảnh là những người đang mua hàng nghe tiếng tri hô cướp và thấy T ôm ba lô bỏ chạy nên c ng nhau ngăn cản T. Anh Th c ôm T lại nhưng bị tuột tay, tiếp theo đến lượt anh ân d ng tay phải t m áo kéo T lại thì bị T d ng tay phải cầm dao gây thương tích. T tiếp tục chạy về phía cửa ra vào thì bị anh Hải d ng ghế khống chế nhưng bị T d ng dao chống trả lại làm cho anh Hải bị thương ở ngón cái rồi bỏ chạy ra ngoài và chạy vào Đường số 14 hướng ra đường Song Hành. Các anh Th c, ân, Hải và Cảnh chia nhau đi tìm nhưng chỉ có anh Th c phát hiện ra T đang di chuyển trên Đường số 17 cắt ngang Đường số 14. Do T cầm dao nên anh Th c không dám tiếp cận mà chạy đi báo dân phòng ở gần đó kể lại đặc điểm của đối tượng. T chạy bộ trên đường Song Hành gần Cầu Trắng thì quăng con dao Thái an xuống sông và tiếp tục đi bộ đến Cầu Trắng d ng lại đặt xe Grap thì có hai dân phòng đến hỏi. T bỏ chạy thì bị dân phòng đu i theo đến trước số nhà 47, Đường số 7, Khu phố 5, phường n Ph , Quận 2 bắt giữ T đưa đến Công an phường n Ph xử lý. Với hành vi trên, bị cáo Trương Hoàng T đã phạm tội “Cướp tài sản”, với tình tiết định khung là dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự 2015, sửa đ i, b sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận 2 truy tố bị cáo là có căn c , đ ng người, đ ng tội, đ ng pháp luật và không oan sai, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo với m c án nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ng a chung trong xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo phạm tội là do vay tiền của xã hội đen để đóng tiền học phí. Trước khi bị bắt, bị cáo là sinh viên trường Đại học H Thành phố Hồ Chí Minh và có hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, cha m ly hôn t l c bị cáo 10 tu i, bị cáo được ông, bà nội nuôi ăn học. Đây là các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nh quy định tại khoản 1 Điều 51 nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017 để xử bị cáo khi lượng hình.

Xét trong quá trình thực hiện hành vi cướp tài sản, bị cáo đã gây thương tích cho anh Lê Minh Hải và Nguyễn Hoàng Lân. Tuy nhiên, anh Hải và anh Lân t chối giám định thương tích và có đơn bãi nại cho bị cáo nên chưa có căn c để xử lý hình sự bị cáo về tội cố ý gây thương tích.

Về trách nhiệm dân sự:

Xét bị cáo đã chiếm đoạt số tiền 990.000 đồng của Công ty TNHH B-S mart, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu hồi trả lại cho công ty. Phía công ty không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.

Về xử lý vật ch ng:

Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã chuẩn bị 01 dao Thái lan, ba lô, khẩu trang và đôi dép. Trên đường tẩu thoát, bị cáo đã quăng con dao Thái lan xuống sông, không thu hồi được. Xét đây là vật ch ng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo Quyết định chuyển vật ch ng số: 09/QĐ-VKSQ2 ngày 25/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 và Biên bản giao nhận vật ch ng số: 011/2019 ngày 28/01/2019 giữa Công an Quận 2 và Chi cục thi hành án dân sự Quận 2.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng T phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trương Hoàng T: 05 (năm) năm t . Thời hạn t tính t ngày 02/10/2018.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết do bị hại không yêu cầu.

3. Về xử lý vật ch ng:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) ba lô màu xanh hiệu Nicea Men, 01 (một) khẩu trang y tế màu xám và 01 (một) đôi dép nhựa hiệu Adidas. (Theo Quyết định chuyển vật ch ng số: 09/QĐ-VKSQ2 ngày 25/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 và Biên bản giao nhận vật ch ng số: 011/2019 ngày 28/01/2019 giữa Công an Quận 2 và Chi cục thi hành án dân sự Quận 2).

4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 và mục 1, phần I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án):

Bị cáo nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án.

- Bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn, 15 ngày, kể t ngày niêm yết hoặc nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 uật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 uật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 uật Thi hành án dân sự”. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- Công an Tp. Hồ Chí Minh (PV.06);

(Đã ký)

- Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;

- Viện kiểm sát nhân dân Quận 2;

- Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 2;

- Công an Quận 2;

- Thi hành án hình sự (PC.10);

- Bị cáo, bị hại;

Nguyễn Hữu Muôn

- ưu: hồ sơ vụ án. TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Quận 2, ngày 28 tháng 3 năm 2019

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi…....giờ……ph t, ngày 28 tháng 3 năm 2019;

Tại Phòng nghị án, Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Muôn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng

2. Bà Đinh Thị Tuyết Mai

Tiến hành nghị án vụ án hình sự thụ lý số 08/2019/TLST-HS, ngày 29 tháng 01 năm 2019, đối với bị cáo:

Tr ng Hoàng T, sinh ngày 03/02/1995, tại Kiên Giang; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: 15, ấp Sóc Cung, xã Phi Thông, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Phòng 1011, Lô B, Ký t c xá Đại học Văn Hóa, địa chỉ: 288, đường Đỗ Xuân Hợp, phường Phước ong , Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về tội danh:

- Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng T phạm tội “Cướp tài sản”. Biểu quyết: 3/3, đạt 100%.

2. Về điều luật áp dụng:

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017. Biểu quyết: 3/3, đạt 100%.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Biểu quyết: 3/3, đạt 100%.

- Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 và mục 1, phần I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án). Biểu quyết: 3/3, đạt 100%.

3. Về hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Trương Hoàng T: 05 (năm) năm t . Thời hạn t tính t ngày 02/10/2018. Biểu quyết: 3/3, đạt 100%.

4. Các vấn đề khác:

4.1. Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết do bị hại không yêu cầu.

4.2. Xử lý vật ch ng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) ba lô màu xanh hiệu Nicea Men, 01 (một) khẩu trang y tế màu xám và 01 (một) đôi dép nhựa hiệu Adidas. (Theo Quyết định chuyển vật ch ng số: 09/QĐ-VKSQ2 ngày 25/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 và Biên bản giao nhận vật ch ng số: 011/2019 ngày 28/01/2019 giữa Công an Quận 2 và Chi cục thi hành án dân sự Quận 2). Biểu quyết: 3/3, đạt 100%.

4.3. Về án phí: Bị cáo nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm. Biểu quyết: 3/3, đạt 100%.

4.4. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án. Biểu quyết: 3/3, đạt 100%.

- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày niêm yết hoặc nhận được bản án. Biểu quyết: 3/3, đạt 100%.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 uật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 uật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 uật Thi hành án dân sự”.

Nghị án kết th c vào hồi........giờ...... ph t, ngày 28 tháng 3 năm 2019.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 59/2019/HSST-QĐ

Quận 2, ngày 28 tháng 3 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Muôn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đinh Thị Tuyết Mai

2. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng

Căn c vào các Điều 79, 80, 88 và 288 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn c vào Biên bản nghị án ngày 28 tháng 3 năm 2019 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tạm giam bị cáo: Trương Hoàng T, sinh ngày 03/02/1995, tại Kiên Giang; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: 15, ấp Sóc Cung, xã Phi Thông, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Phòng 1011, Lô B, Ký t c xá Đại học Văn Hóa, địa chỉ: 288, đường Đỗ Xuân Hợp, phường Phước ong , Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt: 05 (năm) năm t về tội “Cướp tài sản”

Thời hạn t tính t ngày 02/10/2018.

Theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Thời hạn tạm giam là: 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể t ngày tuyên án.

2. Nhà tạm giữ Công an Quận 2 có trách nhiệm thi hành ệnh này.

Cỡ chữ