- Tranh chấp gì? án hình sự — "Le Hoang L phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Lê Hoàng L: 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/01/2019.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2019/HSST Ngày 29/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Huyến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Châu Quang Bá;
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Vinh;
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Xuân Hương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hoàng Vân - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 5 năm 2019, tại Nhà văn hóa khu phố 5, Phường 5, thành phố Đông Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2019/HSST ngày 18 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXXST-HS ngày 16/5/2019, đối với bị cáo: Lê Hoàng L; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 09/6/1992 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố X, phường Y, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: không có; con ông: Lê T, sinh năm 1962, nghề nghiệp: cán bộ và bà Nguyễn Thị Sa C, sinh năm 1970, nghề nghiệp: cán bộ. Hiện đều ở tại khu phố X, Phường Y, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con đầu; chưa có vợ, con.
Tiền án: 01 tiền án, ngày 15/9/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thi hành án tại trại giam Nghĩa An đến ngày 07/6/2017 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương.
Tiền sự: Không;
Nhân thân:
+ Ngày 07/01/2011 bị Công an Phường Y5 thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản;
+ Ngày 13/5/2011 bị Công an thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản;
+ Ngày 22/9/2011 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
+ Ngày 15/12/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
+ Ngày 30/5/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 14/5/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị cấp giấy chứng nhận xóa án tích đối với Lê Hoàng Linh.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/01/2019 tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Quảng Trị đến nay; có mặt tại phiên tòa;
Bị hại: Trịnh Quang K, sinh năm 1988; địa chỉ: Số nhà N Nguyễn Du, khu phố X, Phường Y, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ 40 phút ngày 14/01/2019, Lê Hoàng L đi bộ đến khu vực ngã ba đường Nguyễn Du và Chu Mạnh Trinh để mua Card điện thoại. Khi đi đến nhà anh Trịnh Quang K; địa chỉ 27 Nguyễn Du thuộc khu phố 7, phường 5, thành phố Đông Hà thì L phát hiện cổng đã khóa nhưng cửa chính nhà đang mở, điện bật sáng nên nảy sinh ý định đột nhập vào lấy trộm tài sản. L đi bộ đến khu vực nhà trẻ giáp ranh phía sau ngôi nhà của anh K và nhà số 29 Nguyễn Du, sau đó trèo tường rào vào khu vực khoảng trống giữa hai ngôi nhà. Bị cáo đến bên cửa sổ nhà số 29, dùng tay bám lên tấm be rồi đu người lên đứng trên tấm be. Từ vị trí này, bị cáo L nhảy qua sảnh tầng 2 của nhà anh K, tiếp tục đi theo cầu thang nối từ sảnh tầng 2 xuống sân tầng 1 rồi đột nhập vào nhà bằng cửa chính. Thấy anh K đang ở khu vực bếp nên L đi theo cầu thang phòng khách lên tầng 2, vào phòng ngủ phía bên trái cầu thang, lấy trong túi xách màu đen treo trên giá áo quần 02 lốc tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) với tổng số tiền là 95.000.000 đồng. Sau khi lấy được số tiền trên, L giấu vào túi quần rồi đi xuống tầng 1. Khi đang đi xuống cầu thang thì bị anh K phát hiện nên Linh nhanh chóng bỏ chạy ra hướng cửa chính, nhảy lên nắp cabo của xe ô tô mang BKS 60A-018.96, (xe của anh K đang đỗ trong sân nhà) rồi đu người qua cổng chính của ngôi nhà và tẩu thoát. Sau đó bị cáo đón xe taxi đi đến nhà nghỉ Bình An, thuộc phường Đông Thanh, thành phố Đông Hà để nghỉ ngơi.
Đến khoảng 09 giờ ngày 15/01/2019, bị cáo L đón xe taxi đến Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh thị trấn Hồ Xá, Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị chuyển 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) vào tài khoản số 54010000475613 mang tên anh Lê Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1996, là em trai của Lê Hoàng L hiện đang học tại thành phố Hồ Chí Minh. Số tiền còn lại L dùng để tiêu xài cá nhân và mua 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A6 của một người đàn ông không rõ lại lịch tại khu vực trước cửa hàng Điện Máy Xanh, thuộc khu phố 1, Phường 1, thành phố Đông Hà với giá 4.699.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm chín mươi chín nghìn đồng). Đến chiều ngày 17/01/2019, L gọi điện bảo Lê Nguyễn Hoàng S chuyển 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) vào số tài khoản của chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1994, trú tại khu phố 7, phường 5, thành phố Đông Hà. Linh lấy số tiền trên từ chị T và tiêu xài cá nhân hết 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Ngày 18/01/2019, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đông Hà mời L lên làm việc, tại đây L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) và 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A6, màu đen.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã truy tố bị cáo Lê Hoàng L về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm c Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Hoàng L từ 42 đến 48 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Anh Trịnh Quang K có đơn trình bày: Yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 52.500.000 đồng, trong đó: Xin nhận chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A6, màu đen, số Imei 1: 35182510029201, số Imei 2: 351901100029200 trị giá 4.699.000 đồng và buộc bị cáo phải bồi thường thêm cho anh Trịnh Quang K số tiền 47.801.000 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Hoàng L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 23 giờ 40 phút ngày 14/01/2019, bị cáo Lê Hoàng L đi bộ đến khu vực ngã ba đường Nguyễn Du và Chu Mạnh Trinh để mua Card điện thoại. Khi đi đến nhà anh Trịnh Quang K thì bị cáo phát hiện cổng đã khóa nhưng cửa chính nhà đang mở, điện bật sáng nên nảy sinh ý định đột nhập vào trộm cắp tài sản. L đi bộ đến khu vực nhà trẻ Phượng Hồng giáp phía sau ngôi nhà của anh K và nhà số 29 Nguyễn Du. Sau đó, trèo tường rào vào khu vực khoảng trống giữa hai ngôi nhà. Bị cáo đến bên cửa sổ nhà số 29, dùng tay bám lên tấm be rồi đu người lên đứng trên tấm be, nhảy qua sảnh tầng 2 của nhà anh K, tiếp tục đi theo cầu thang nối từ sảnh tầng 2 xuống sân tầng 1 rồi đột nhập vào nhà bằng cửa chính đi theo cầu thang phòng khách lên tầng 2, vào phòng ngủ phía bên trái cầu thang, lấy trong túi xách màu đen treo trên giá áo quần 02 lốc tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) với tổng số tiền là 95.000.000 đồng giấu vào túi quần đi xuống tầng 1 thì bị anh K phát hiện, bị cáo nhanh chóng tẩu thoát.
Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Hoàng L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định khung hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi một cách liều lĩnh, táo bạo, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo Lê Hoàng L đã bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội nghiêm trọng do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm. Do đó, phải chịu tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; mặt khác, bị cáo nhiều lần bị xử phạt hành chính và xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần xử phạt với mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội.
Tính đến ngày xét xử sơ thẩm thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần phải ban hành quyết định tạm giam mới.
Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Cơ quan Điều tra thu giữ của Lê Hoàng L: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A6, màu đen, số imei 1: 351825100029201, imei 2: 351901100029200; tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam: 2.500.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Sa C (là mẹ của Lê Hoàng L và Lê Nguyễn Hoàng S) giao nộp: tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam: 40.000.000 đồng, đây là số tiền của Lê Hoàng L trộm cắp của anh Trịnh Quang K rồi chuyển vào tài khoản của em trai Lê Nguyễn Hoàng S. Số tiền 42.500.000 đồng là tài sản bị cáo chiếm đoạt của anh K, Cơ quan Điều tra đã trả lại cho anh Trịnh Quang K là đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại văn bản đề nghị ngày 28/5/2019, anh Trịnh Quang K yêu cầu Tòa án buộc bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền còn lại 52.500.000 đồng, trong đó: xin được nhận chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A6, màu đen mà bị cáo L đã dùng số tiền trộm cắp của anh K để mua với giá 4.699.000 đồng và yêu cầu bồi thường thêm số tiền 47.801.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng, anh Trịnh Quang K yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền còn lại 52.500.000 đồng là có căn cứ nên chấp nhận. Chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A6, màu đen, số imei 1: 351825100029201, imei 2: 351901100029200 bị cáo Lê Hoàng L đã dùng tiền trộm cắp của anh Trịnh Quang K để mua, nay anh K xin được nhận chiếc điện thoại trên là hoàn toàn phù hợp. Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh K.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội,
Xử phạt: Lê Hoàng L: 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/01/2019.
2. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự, tuyên:
Trả lại cho anh Trịnh Quang K 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A6, màu đen, số imei 1: 351825100029201, imei 2: 351901100029200 trị giá 4.699.000 đồng (hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan Điều tra Công an thành phố Đông Hà và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà lập ngày 24/4/2019).
Buộc bị cáo Lê Hoàng L phải bồi thường cho anh Trịnh Quang K số tiền 47.801.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền ra quyết định chủ động thi hành án); kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải bồi thường cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 LuậtThi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.390.000 (Hai triệu ba trăm chín mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND TP Đông Hà; - Công an TP Đông Hà; - Thi hành án hình sự; - Sở tư pháp; - Chi cục THADS TP Đông Hà; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: HS, THS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Châu Quang Bá- Nguyễn Thị Mỹ Vinh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Huyến THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Huyến |