- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2019/HS-ST Ngày: 10-9-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Công Triều - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 30/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T, sinh ngày 10/6/1966; Nơi sinh: Huyện C, tỉnh Long An; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Con ông Nguyễn Thanh Tr, (đã chết) và bà Phạm Thị U; Bị cáo có vợ và một con sinh năm 1995; Tiền án: 01 lần về hành vi Trộm cắp tài sản của công dân năm 1998 (đã xóa án tích); Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 02/8/2019, tạm giam ngày 05/8/2019. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Phan Tấn H, sinh năm 1972; (xin vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp M, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1990; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp B, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
2. Ông Phạm Văn Sum, sinh năm 1960; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp M, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 02/8/2019, bị cáo Nguyễn Thanh T đi xe buýt đến khu vực xã B, thị xã G thì xuống xe và đi bộ dọc đường Quốc lộ 50. Khi đến cửa hàng bán thức ăn gia súc H do anh Phan Tấn H làm chủ, bị cáo T đi vào và quan sát thấy không có ai quản lý, nên nảy sinh ý định lấy cắp tài sản. Bị cáo T đi lại kéo học tủ ra thấy bên trong có nhiều tiền nên lén lút lấy một cọc tiền với tổng số tiền là 4.456.000 (Bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn) đồng, bỏ trong túi quần và đi ra ngoài. Sau đó bị anh H phát hiện truy hô và bắt đưa về trụ sở Công an xã Bình Đông, thị xã Gò Công lập biên bản biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKSTXGC ngày 26/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như quyết định truy tố và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã thể hiện, không có ý kiến tranh luận bổ sung. Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Thẩm phán xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ 03 tháng đến 05 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2019.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Gò Công đã trao trả số tiền là 4.456.000 (Bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn) đồng cho anh Phan Tấn H vào ngày 03/8/2019.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, bị hại không có yêu cầu gì, nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi do mình gây ra, bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi vi phạm của mình. Mong được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Gò Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo T khai nhận vào ngày 02/8/2019, do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, không ai quản lý tại cửa hàng bán thức ăn gia súc của anh Phan Tấn H, bị cáo T đã lén lút kéo học tủ và lấy một cọc tiền với tổng số tiền là 4.456.000 (Bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn) đồng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, đồng thời hành vi ấy còn gây mất trật tự ở địa phương. Bị cáo có đủ sức lao động để kiếm sống, muốn có tiền để tiêu xài nhưng lại lười lao động nên mới dấn thân vào con đường tội phạm. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật mà vẫn cố ý thực hiện, thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận bản thân không có nghề nghiệp ổn định, nghiện rượu và có nhân thân không tốt do từng có một tiền án về hành vi Trộm cắp tài sản của công dân năm 1998, nên việc áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã một thời gian là cần thiết, nhằm giúp bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và cũng có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhận thấy trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thái độ của bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có thời gian tham gia quân đội nhân dân Việt nam và được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Từ đó, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s, v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị lấy trộm và không có yêu cầu gì, nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả tài sản cho bị hại đúng quy định pháp luật nên ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s, v khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;
- Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là 02/8/2019.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Người bị hại; - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Gò Công; - Cơ quan Thi hành án hình sự thị xã Gò Công; - Lưu: AV, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thu Thúy |