- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2019/HS-ST Ngày: 28 /6/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lầu A Cù - Đinh Xuân Thủy
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Trưởng - Kiểm sát viên
Ngày 28/6/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Than huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2019/HSST, ngày 31/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2019/QĐXXST-HS ngày 14/6/2019 đối với bị cáo:
1. Lò Văn N (Tên gọi khác: Không); sinh năm: 1979
Nơi ĐKHKTT: Khu 6, thị trấn Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Thanh Inh (đã chết) và bà Nguyễn Thị Dậu, sinh năm: 1950; Vợ 1: Phạm Thị Na (đã ly hôn); Vợ 2: Vũ Thị Trang (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con là Lò Quang Minh (đã chết do bị bệnh);
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 09/3/2019, đến ngày 18/3/2019, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại khu 6, thị trấn Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quá trình điều tra, Lò Văn N khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 09/3/2019, Lò Văn N đến nhà bà Nguyễn Thị Xuân, trú tại khu 8, thị trấn Than Uyên, huyện Than Uyên mượn chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 25T1 - 038.71 của anh Nguyễn Văn Tuấn (con trai bà Xuân), mục đích của N đi tìm mua ma túy sử dụng nhưng N không nói cho bà Xuân biết. Sau khi mượn được xe mô tô, Lò Văn N điều khiển lên bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên. Tại bản Noong Thăng, Lò Văn N gặp và hỏi mua Heroine của ba người đàn ông không rõ địa chỉ, lai lịch nhưng những người này không có Heroine bán. Một lúc sau, N thấy một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ địa chỉ, lai lịch đến bán Heroine cho ba người đàn ông N đã gặp trước đó. Lúc này, N đưa cho người phụ nữ đó 300.000 đồng để hỏi mua Heroine. Người phụ nữ nhận tiền rồi đi khoảng 30 phút sau quay lại đưa cho Lò Văn N 01 gói Heroine (gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng). Mua được Heroine, N lên đồi chè và cấu một ít để sử dụng. Số Heroine còn lại N cất giấu vào quai mũ bảo hiểm đội trên đầu để mang về nhà sử dụng. Đến hồi 13 giờ 30 phút cùng ngày, Lò Văn N về đến Đội 9 xã Phúc Than huyện Than Uyên thì bị Công an huyện Than Uyên phát hiện, bắt quả tang về hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, vật chứng thu giữ trong quai mũ bảo hiểm Lò Văn N đang đội là 01 gói Heroine có khối lượng 0,22 gam. Ngoài ra còn tạm giữ của Lò Văn N 01 mũ bảo hiểm và 01 xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA - Sirius, biển kiểm soát 25T1 - 038.71.
Ngày 09/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên đã tiến hành mở niêm phong vật chứng thu giữ của Lò Văn N, sau khi cân tịnh xác định mẫu chất bột khô, màu trắng, vón cục có khối lượng 0,22 gam.
Cơ quan điều tra đã trích 0,3 gam trong tổng số 0,22 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số: 153/2019/GĐ - KTHS ngày 13/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “ mẫu chất bột khô, màu trắng gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine”.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA - Sirius, biển kiểm soát 25T1 - 038.71 thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn N. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn Tuấn, khi bà Xuân (mẹ Tuấn) cho mượn xe mô tô bà Xuân không biết N mượn xe để đi mua ma túy. Ngày 21/3/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc xe mô tô cho anh Nguyễn Văn Tuấn là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Vật chứng còn lại của vụ án là: 01 mũ bảo hiểm và 0,19 gam Heroine thu giữ của Lò Văn N, hiện đang được lưu giữ tại Chi cục THADS huyện Than Uyên.
Bản cáo trạng số: 23/CT - VKS ngày 29/5/2019 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Lò Văn N về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Ngày 09/3/2019 tại Bản Noong Thăng xã Phúc Than huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu. Lò Văn N đã thực hiện hành vi mua trái phép 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng, mục đích để sử dụng. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày Lò Văn N bị công an huyện Than Uyên bắt quả tang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ trên người Lò Văn N là 0,22 gam Heroine.
Như vậy căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thì hành vi của bị cáo Lò Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, 2
điều 51; điều 38 - Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, khấu trừ 09 ngày tạm giữ cho bị cáo.
Đề nghị không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 điều 249 - Bộ luật hình sự đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm và nhất trí với bản cáo trạng và không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo hứa không tái phạm rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Ngày 09/3/2019 Lò Văn N đã mua trái phép 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết, sau đó N cấu lấy một ít ra để sử dụng. Số Heroine còn lại N cất giấu vào quai mũ bảo hiểm đội trên đầu mang về mục đích để sử dụng. Đến hồi 13 giờ 30 phút cùng ngày, Lò Văn N đi đến đội 9 xã Phúc Than huyện Than Uyên thì bị Công an huyện Than Uyên phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,22 gam Heroine. Số Heroine N tàng trữ Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định và kết luận giám định khẳng định là “ Heroine”.
Đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn N Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của bị cáo là mua Heroine về sử dụng ngoài ra không có mục đích nào khác, cân tịnh khối lượng chất ma túy thu giữ của bị cáo có khối lượng là 0,22 gam Heroine. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: " Tàng trữ trái pháp chất ma túy". Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố bị cáo Lò Văn N về tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 - Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội, do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, mẹ bị cáo đã được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1,2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, bị cáo chưa cai nghiện lần nào, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân. Xét thấy cần phải có một mức án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét về điều kiện kinh tế của bị cáo còn khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 điều 249 - Bộ luật hình sự
Về vật chứng còn lại của vụ án là 0,19 gam Heroine thu giữ của bị cáo là chất nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 mũ bảo hiểm thu giữ của bị cáo là vật bị cáo cất giấu ma túy, xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc số Heroine bị cáo khai mua của người phụ nữ dân tộc Mông không rõ lai lịch nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
1. Về hình phạt:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 điều 51, điều 38 - Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Lò Văn N 18 (mười tám) tháng tù, bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ.
Thời hạn thi hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 47- Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Heroine và 01 mũ bảo hiểm thu giữ của bị cáo. (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2019 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Than Uyên với Chi cục THADS huyện Than Uyên).
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh lai Châu.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh - VKS tỉnh, huyện - THA dân sự - Cơ quan THAHS - THA PT - Bị cáo - Sở Tư pháp -UBND thị trấn - Công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án. - Lưu HS - TA . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phƣơng |