vanban.org

Bản án 22/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội Tuyên án 04/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Thị L phạm tội “ Môi giới mại dâm”.

Xử phạt: Đinh Thị L 08 (tám) tháng tù về tội “ Môi giới mại dâm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2019 đến ngày 25/01/2019; Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Thị L - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Thị L phạm tội “ Môi giới mại dâm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 328 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THẤT
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2019/HS-ST
Ngày 04/ 5/ 2019;

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Tần;

Bà Nguyễn Thị Mai;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh, Thư ký, Toà án nhân dân huyện Thạch Thất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất tham gia phiên tòa:

Ông Phùng Văn Chung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26/4/2019 đến ngày 04/5/2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thất xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Đinh Thị L, sinh ngày 23 tháng 6 năm 1980; tại xã H, huyện H, tỉnh N; nơi cư trú: Tổ 9, Khu X, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Con ông Đinh Văn K (đã chết) và bà Lại Thị C, sinh năm 1948; Chồng: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; con: 02 (lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2003); Tiền án: Không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 28/8/2008 Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn , tỉnh Hòa Bì xử phạt bị cáo 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội chứa mại dâm.Tạm giữ: từ ngày 27/12/2018, tạm giam: Ngày 05/01/2019 đến ngày 25/01/2019. Danh chỉ bản số 042 do Công an huyện Thạch Thất lập ngày 28/12/2018. Có mặt.

* Người làm chứng:

1. Chị Hoàng Thị L1, sinh năm 1989; vắng mặt;

Trú tại: Thôn G, xã N, huyện L, tỉnh H;

2. Anh Nguyễn Mai H, sinh năm 1984; vắng mặt;

3. Anh Cao Văn T, sinh năm 1986; vắng mặt;

Đều trú tại: Cụm 4, xã T, huyện P, thành phố H;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Thị L, sinh năm 1980; HKTT: Tổ 9, khu phố X, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội và Hoàng Thị L1, sinh năm 1989, HKTT: Thôn Giếng Êm, xã Nhuận Trạch, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình đều là gái bán dâm. L thỏa thuận với L1 khi L có nhiều khách muốn mua dâm cùng một lúc thì L sẽ rủ L1 cùng đi bán dâm. Khoàng 7 giờ ngày 27/12/2018, anh Nguyễn Mai H, sinh năm 1984, HKTT: Cụm 4, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội, gọi điện cho L rủ đi ăn, sau đó đi mua bán dâm. H và L hẹn gặp nhau tại ngã ba thị trấn Liên Quan, huyện Thạch Thất. Trên đường đi đến thị trấn Liên Quan để gặp L, H gặp Cao Văn T, sinh năm 1986, HKTT: Cụm 4, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội. T hỏi H đi đâu, H nói cho T biết là H đi uống rượu nên T xin đi cùng thì H đồng ý. H và T tới thị trấn Liên Quan gặp L, sau đó cả ba rủ nhau đi ăn sáng, uống nước tại một quán ở thị trấn Liên Quan, huyện Thạch Thất. Khi ngồi uống nước, H có nói cho T biết L là gái bán dâm, H nói với L “Tý anh em mình đi chơi tý” (ý H hỏi mua dâm L), L đồng ý. T biết H sẽ mua dâm với L nên T nói với L “Tý chị đi chới với anh Hải, mình em buồn, chị gọi cho em một em” (ý T đặt vấn đề nhờ L gọi gái bán dâm tới để T mua dâm). L hiểu ý T và đồng ý, sau đó L gọi điện cho Hoàng Thị L1 nhưng không liên lạc được. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày L1 gọi điện lại cho L và hỏi L đang ở đâu. L nói L đang uống rượu với bạn ở thị trấn Liên Quan và rủ L1 lên ăn uống cùng. L1 đồng ý và thuê một xe taxi đi tới gặp L. Trong lúc chờ L1 tới, L, H, T tới quán ăn tại thị trấn Liên Quan, huyện Thạch Thất để ăn uống. Đến khoảng 12 giờ thì L1 đến và ngồi ăn uống cùng. Trong lúc ăn uống H đưa cho T 500.000đ và bảo T trả tiền mua dâm của L giúp H. Khoảng 45 phút sau khi L1 tới, T gọi L ra phía sau quán và hỏi L “Lát em trả L1 bao nhiêu tiền”, L nói “Không biết”, T lấy ra 1.000.000đ (một triệu đồng) đưa cho L và nói “em đưa cho chị tiền của em và H, còn chị đưa cho L1 bao nhiêu thì tùy”. L đồng ý và cầm lấy tiền. Sau đó, L đưa cho L1 500.000đ và nói với L1 “Tý nữa em đi ngủ với thằng em của chị một lúc đến 4 giờ chiều thì về”. L1 liền hỏi “em ngủ với ai”, thì L chỉ vào T. L1 hiểu ý L là bảo L1 đi bán dâm cho T nên L1 cầm lấy tiền. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày L, L1, T, H đến nhà nghỉ Huy Hoàng tại Khu phố, thị trấn Liên Quan, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội do vợ chồng chị Cao Thị Nga, sinh năm 1993, anh Nguyễn Văn Hùng, sinh năm 1980 làm chủ để thực hiện việc mua bán dâm. Khi đến nhà nghỉ, L1 vào phòng 203 bán dâm cho T, L vào phòng 202 bán dâm cho H. Đến khoảng 14 giờ 30 phút, thì lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang L1 đang giao cấu với T; L giao cấu với H.

Vật chứng thu giữ gồm:

-Tại phòng 202: 01 vỏ bao cao su và 01 bao cao su nhãn hiệu DORAL đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar đã sử dụng; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng).

-Tại phòng 203: 01 vỏ bao cao su, 01 bao cao su nhãn hiệu OK đã qua sử dụng; 01 bao cao su nhãn hiệu OK chưa sử dụng, 01 hộp đựng bao cao su, 01 điện thoại Nokia màu đen; 01 điện thoại SamSung màu xanh, 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).

Tại Quyết định xử lý vật chứng số 21 ngày 06/01/2019, cơ quan điều tra đã trả lại cho Cao Văn T 01 chiếc điện thoại Samsung màu xanh; trả lại chị Hoàng Thị L1 chiếc điện thoại NOKIA màu đen.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS –TT ngày 13 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Đinh Thị L về tội “Môi giới mại dâm”.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 328 của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hinh sự; xử phạt: Đinh Thị L từ 18 - 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2018 đến ngày 25/01/2019.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; đê nghị Hội đồng xét xử tịch thu xung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA và số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng); tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã sử dụng, 01 bao cao su chưa sử dụng; 02 vỏ bao cao su; 01 hộp đựng bao cao su.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Thất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Đinh Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 27/12/2018 Đinh Thị L có hành vi môi giới cho chị Hoàng Thị L1 bán dâm cho anh Cao Văn T tại nhà nghỉ Huy Hoàng ở thị trấn Liên Quan, huyện Thạch Thất; tại thời điểm phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn áp dụng nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 2008 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Chứa mại dâm”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính và nộp tiền án phí nên bị cáo được đương nhiên xóa án. Do vậy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo khai là con liệt sỹ Đinh Văn Khải và xuất trình tài liệu là “Tổ quốc ghi công” ghi tên liệt sỹ Đinh Văn Khải. Tại bằng “Tổ quốc ghi công” do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14/7/1974 ghi liệt sỹ Đinh Văn Khải hy sinh năm 1972 và theo UBND xã H, huyện H, tỉnh N cung cấp và mẹ của bị cáo thì Đinh Thị L là con riêng của bà Lại Thị Chanh (vợ liệt sỹ Đinh Văn Khải), do sơ suất không kiểm tra nên UBND xã đã đăng ký khai sinh cho Đinh Thị L có tên cha là liệt sỹ Đinh Văn Khải. Như vậy, liệt sỹ Đinh Văn Khải chết từ năm 1972 mà bị cáo Đinh Thị L sinh năm 1980 cho nên bị cáo không phải là con đẻ của liệt sỹ Đinh Văn Khải do vậy bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm x, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, liệt sỹ Đinh Văn Khải là chồng của mẹ bị cáo là gia đình liệt sỹ cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cáo bị cáo, xét thấy: Bị cáo đã bị kết án về tội chứa mại dâm nhưng nay lại thực hiện hành vi môi giới mại dâm nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

.Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA và số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) là vật và tiền dùng vào việc phạm tội cần tịch thu xung quỹ nhà nước; đối với 02 bao cao su đã sử dụng, 01 bao cao su chưa sử dụng; 02 vỏ bao cao su; 01 hộp đựng bao cao su cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đinh Thị L phạm tội “ Môi giới mại dâm”.

Áp dụng khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Đinh Thị L 08 (tám) tháng tù về tội “ Môi giới mại dâm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2019 đến ngày 25/01/2019;

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

-Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA và số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng);

- Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã sử dụng, 01 bao cao su chưa sử dụng; 02 vỏ bao cao su; 01 hộp đựng bao cao su.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14;

Bị cáo Đinh Thị L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ