vanban.org

Bản án 22/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 01/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải H phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hải H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải H phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 22/2019/HS-ST
Ngày: 01-8-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Phi;

2. Ông Hồ Đắc Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Linh – Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Thế Duẩn - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 22/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hải H, sinh năm 1994, tại Bình Dƣơng; Nơi đăng ký HKTT: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Xuân T (đã chết); con bà Nguyễn Thị Phƣợng L, sinh năm 1973; vợ: Nguyễn Thị Diễm T1, sinh năm 1994; bị cáo có 01 con sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Phan Ngọc A, sinh năm 1993; HKTT: Thôn L, xã P, huyện N, tỉnh Bình Định. Chỗ ở hiện nay: ấp M, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Phƣợng L1, sinh năm 1973; ngụ tại: Ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.

- Người làm chứng

+ NLC1, sinh năm 1993. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

+ NLC2, sinh năm 1983. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

+ NLC3, sinh năm 1963. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Hải H và Phan Ngọc A trƣớc đây cùng là nhân viên của Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Thế Giới N, trong quá trình làm việc thƣờng xảy ra mâu thuẫn. Đến cuối năm 2017 thì H xin nghỉ việc.

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 13/01/2019, sau khi uống rƣợu, H nhớ lại mâu thuẫn giữa mình và A nên H lấy 01 con dao bầu dài khoảng 50cm, cán bằng gỗ, lƣỡi bằng kim loại tại nhà và điều khiển xe mô tô biển số 61H1-184.06 đi một mình đến Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Thế Giới N để tìm A. Khoảng 23 giờ khi đến công ty, H để xe tại sân và cầm dao đi bộ vào phòng nghỉ dành cho nhân viên. Lúc này tại phòng nghỉ có A và NLC1 đang nằm sử dụng điện thoại di động. H tiến lại chỗ A và nói “anh em làm chung sao mày ăn hiếp hoài vậy”. A chƣa kịp trả lời thì H cầm dao bằng tay trái chém từ trên xuống vào ngƣời A. A đƣa chân trái lên đỡ thì bị chém trúng mặt trong lòng bàn chân gây thƣơng tích. H tiếp tục cầm dao chém vào ngƣời A. A co chân trái lại thi bị chém trúng đầu gối trái gây thƣơng tích. Nhìn thấy H chém A nên NLC1 bỏ chạy ra ngoài kêu cứu. H tiếp tục dùng dao chém vào ngƣời A. A đứng dậy và đƣa 2 tay lên đỡ thì bị H chém trúng 1 cái vào cổ tay trái và 1 cái vào cẳng tay phải gây thƣơng tích. A chạy ra ngoài sân công ty kêu cứu thì H tiếp tục đuổi theo để chém A nhƣng bị bảo vệ của công ty là NLC2 và NLC3 can ngăn nên H điều khiển xe mô tô biển số 61H1-184.06 đi về nhà, trên đƣờng đi H vứt con dao dùng để chém A vào lề đƣờng nhƣng không xác định đƣợc vị trí đã ném.

A đƣợc H và ngƣời dân đƣa đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh. Giấy chứng nhận thƣơng tích số 149/CN-BVCR ngày 28/01/2019 của Bệnh viện Chợ Rẫy thể hiện tình trạng lúc vào viện nhƣ sau:

- Vết thƣơng mặt lƣng cẳng tay phải khoảng 02cm;

- Vết thƣơng cổ tay trái;

- Vết thƣơng gối trái kích thƣớc khoảng 02x04cm;

- Vết thƣơng mặt trong và lòng bàn chân trái kích thƣớc khoảng 08x04cm.

Ngày 27/02/2019, Phan Ngọc A có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi cố ý gây thƣơng tích của Nguyễn Hải H.

Ngày 28/02/2019, Nguyễn Hải H đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ trên.

Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số: 88/2019/GĐPY ngày 28/02/2019 của Trung tâm Giám định Pháp y tỉnh Bình Dƣơng kết luận tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại của Phan Ngọc A là: 23% (hai mƣơi ba phần trăm) theo bảng tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể ban hành kèm theo thông tƣ số: 20/2014/TT-BYT do Bộ y tế ban hành ngày 12/6/2014.

Tại Cáo trạng số 22/CT-VKSDT ngày 03/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng truy tố bị cáo Nguyễn Hải H về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ Luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo H về tội “Cố ý gây thƣơng tích”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hải H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Hải H đã tự nguyện bồi thƣờng cho bị hại Phan Ngọc A chi phí điều trị và tổn thất tinh thần với số tiền 85.000.000 đồng. Bị hại không có yêu cầu khác.

- Về vật chứng:

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, biển số: 61H1-184.06, số máy: 6051111, số khung: 035375. Quá trình điều tra xác định: Xe mô tô trên do Nguyễn Thị Phƣợng L1 (mẹ ruột của H) đứng tên chủ sở hữu, ngày 13/01/2019, bà L1 không biết H sử dụng xe mô tô trên làm phƣơng tiện phạm tội nên nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng không thu giữ, xử lý.

Đối với 01 (một) con dao bầu dài khoảng 50cm, cán bằng gỗ, lƣỡi bằng kim loại là công cụ của H sử dụng vào việc phạm tội, quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã tiến hành truy tìm vật chứng tuy nhiên không thu giữ đƣợc nên không xử lý.

- Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ nội dung bản Cáo trạng số 22/CT-VKSDT ngày 03/6/2019 của Viện kiểm sát nhân nhân huyện Dầu Tiếng đã truy tố, bị cáo nhìn nhận trách nhiệm của mình và tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt

- Ý kiến của ngƣời bị hại Phan Ngọc A tại phiên tòa: Bị hại đã nhận chi phí điều trị và tổn thất tinh thần với số tiền 85.000.000 đồng và không có yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm. Về hình phạt thì bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Ý kiến của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Phƣợng L1: Xe mô tô biển số 61H1-184.06 là tài sản hợp pháp của bà L1. Bà L1 không biết bị cáo lấy xe đi thực hiện hành vi phạm tội. Xe trên không bị cơ quan tạm giữ nên không có yêu cầu gì.

- Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, bị cáo rất hối hận, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hải H khai nhận nhƣ sau: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 13/01/2019, sau khi uống rƣợu, H nhớ lại mâu thuẫn giữa mình và A nên H lấy 01 con dao bầu dài khoảng 50cm, cán bằng gỗ, lƣỡi bằng kim loại tại nhà đến Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Thế Giới N để tìm A. Đến công ty, H có hành vi dùng dao chém nhiều nhát vào ngƣời A, trúng vào bàn chân trái, đầu gối trái, cổ tay trái và cẳng tay phải, gây thƣơng tích cho A. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa. Thƣơng tích của bị hại A đƣợc Trung tâm giám định pháp y tỉnh Bình Dƣơng kết luận tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên là 23% theo Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 88/2019/GĐPY ngày 28/02/2019 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Bình Dƣơng.

Nhƣ vậy, có căn cứ kết luận Cáo trạng số 22/CT-VKSDT ngày 03/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng truy tố bị cáo Nguyễn Hải H về tội Cố ý gây thƣơng tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ Luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo H đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của ngƣời bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ. Bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực để nhận thức đƣợc việc làm của mình là vi phạm pháp luật thế nhƣng bị cáo vẫn cố tình chuẩn bị công cụ, phƣơng tiện và thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại một cách trái pháp luật mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phƣơng. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm, tƣơng xứng với hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo tự nhận thức, sửa chữa lỗi lầm của mình và giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nhƣ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện bồi thƣờng khắc phục hậu quả cho bị hại đƣợc quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra bị cáo còn có tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nhƣ: Tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có con nhỏ.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét ý kiến luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật là phù hợp nên chấp nhận. Tuy nhiên Viện kiểm sát đề nghị mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù là quá nghiêm khắc. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bản thân bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự nên cần xử phạt bị cáo mức án nhẹ hơn đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H đã tự nguyện bồi thƣờng cho bị hại Phan Ngọc A chi phí điều trị và tổn thất tinh thần với số tiền 85.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thêm nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng:

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, biển số: 61H1-184.06, số máy: 6051111, số khung: 035375. Xe mô tô là tài sản hợp pháp của bà L1 (mẹ ruột của bị cáo H) đứng tên chủ sở hữu, bà L1 không biết H sử dụng xe mô tô trên làm phƣơng tiện phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng không thu giữ, xử lý là phù hợp.

Đối với 01 (một) con dao bầu dài khoảng 50cm, cán bằng gỗ, lƣỡi bằng kim loại là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã tiến hành truy tìm vật chứng, tuy nhiên không thu giữ đƣợc nên không xử lý.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải H phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

3. Về biện pháp tƣ pháp: Không.

4. Án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Áp phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Hải H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ